[HTTT Doanh nghiệp] - 8 sai lầm lớn nhất trong quản lí CNTT

FAST-Support

Member
Thành viên BQT
Hội viên mới
CRM và ERP: Sự khác biệt và bạn cần gì?

Tác giả: David Taber. Tạp chí CIO, 6-2-2018

Lược dịch bởi bộ phận Mktg của FAST.

Cả hai hệ thống CRM và ERP xử lý danh sách những người liên hệ, danh sách các công ty, báo giá, đơn đặt hàng và dự báo… và chúng có thể xử lý chi tiết đơn hàng, lịch gửi và hóa đơn. Giải pháp nào bắt đầu ở đâu và giải pháp kia dừng lại ở đâu? Hãy xem hướng dẫn dưới đây cho những người còn bối rối trong vấn đề này.

Dấu chân của hệ thống ERP và CRM dường như có những chổ trùng lặp - cả hai đều xử lý các mối liên hệ và danh sách các công ty và rất nhiều chi tiết về các đơn đặt hàng. Thật vậy, một số nhà cung cấp ERP cho rằng CRM, HRM là một phần của ERP. Do đó, có nhiều sự mơ hồ và nhầm lẫn về những chủ đề này để… ahem… vấn đề như ở trong đám mây.

Vì không có nhiều nhầm lẫn về việc ai sử dụng hệ thống ERP và CRM, hãy bắt đầu từ đây. Những người dùng chính của hệ thống CRM nằm ở bộ phận bán hàng và hỗ trợ - họ làm việc trực tiếp với khách hàng và họ không thực hiện công việc sản xuất cũng như thực hiện các đơn đặt hàng (họ chỉ hét lên với những người làm điều đó). Ngược lại, người dùng ERP thì tập trung vào quá trình sản xuất và điều phối: các cán bộ quản lý nhà máy, cán bộ điều phối lịch trình sản xuất, người mua, chuỗi cung ứng, tài chính. Người dùng ERP là người dùng nội bộ và nhà cung cấp, hiếm khi gọi điện thoại cho khách hàng ngoại trừ trả lời một số loại khiếu nại. Người dùng ERP và CRM không tham gia cùng nhau, họ làm việc ở các bước khác nhau và họ hầu như không nhận ra phần mềm của nhóm khác hữu ích cho họ. Những người duy nhất trong công ty có đăng nhập trên cả hệ thống CRM và ERP đó là cán bộ IT, chịu trách nhiệm tích hợp, xử lý và phân tích số liệu.

Tuy nhiên, một số nhà cung cấp ERP có cung cấp CRM và nhà cung cấp CRM như Salesforce.com đang ngày càng lấn chiếm sang phần ERP.

Đối với các doanh nghiệp lớn, quyết định đã được đưa ra: họ cần có một hệ thống ERP đầy đủ để quản lý nhiều nhà máy, nhiều trung tâm phân phối, nhiều chuỗi cung ứng và nhiều loại tiền tệ…. Họ cũng cần một hệ thống CRM đầy đủ để quản lý bán hàng, hỗ trợ và một số chức năng tiếp thị của họ trên các thị trường quốc tế. Thực tế, các doanh nghiệp thuộc nhóm Fortune 100 có thể đã có không phải là một mà là một số ERP và CRM, và công việc thực sự là tích hợp giữa các hệ thống này - đây là một vấn đề luôn nhức đầu.

Có hàng triệu công ty nhỏ hơn sẽ không bao giờ phải đối mặt với vấn đề đó và có thể phát triển có lợi nhuận với các bộ tính năng ERP và CRM rời rạc. Ví dụ, một công ty dịch vụ (kỹ thuật, pháp lý, kế toán, ngân hàng đầu tư, v.v.) có thể phát triển đến kích thước đáng kể với ít hơn một gói phần mềm kế toán và một hệ thống quản lý các mối liên lạc. Có, sẽ có vấn đề khi họ phát triển quốc tế và mua lại các công ty khác, nhưng một công ty dịch vụ chuyên nghiệp có thể hoạt động với nhiều hệ thống kế toán và người quản lý các mối liên hệ. Ngay cả khi cách tiếp cận đó có vẻ “xấu xí” nhưng chúng sẽ không bao giờ là mối đe dọa đến tính mạng.
Giải mã ERP
Hãy xem xét nền tảng cơ bản của ERP: đó là quản trị tài chính. Mỗi công ty - và thậm chí là các tổ chức phi lợi nhuận - sẽ cần một hệ thống quản lý tài chính. Tài chính có nghĩa là ghi sổ các giao dịch, các khoản phải trả, các khoản phải thu, tiền, thuế, quản lý dòng tiền, báo cáo hàng quý và hỗ trợ ra quyết định - lĩnh vực duy nhất được kết nối với chức năng CRM là lập hóa đơn và ghi nhận doanh thu.

Ở cấp độ tiếp theo của ERP là tất cả mọi thứ liên quan đến việc làm cho nhà máy sản xuất sản lượng cao nhất để sản phẩm được chất lên xe vào cuối quý. Lịch sản xuất tổng thể, mua sắm, quản lý hàng tồn kho, phân phối / vận chuyển / thực hiện đơn hàng, quản lý chuỗi cung ứng - các chức năng đó được kết nối với hệ thống CRM đáng kể nhất đó là: những gì đã được đặt hàng bởi ai và các dự báo về đặt hàng tiếp theo.

Ở mức cao nhất của ERP là tối ưu hóa: điều phối sản xuất tại nhiều nhà máy, kho bãi và phân phối, lập kế hoạch và trình tự sản xuất để tối đa hóa lợi nhuận hoặc giảm thiểu hạn chế, cải thiện hiệu suất của chuỗi cung ứng, “reverse logistics” (còn gọi là “bảo hành”) , đảm bảo các mức tiền cho từng loại tiền, và tất nhiên là cả tấn phân tích và hỗ trợ quyết định.

Để thực hiện tất cả công việc này, các hệ thống ERP chứa hàng trăm (hoặc thậm chí hàng nghìn) bảng. Thông thường, các bảng khá đơn giản và có nhiều các bảng con, cháu, chắt…

Nhưng ngay cả với tính năng quan sát 360 độ về khách hàng trong ERP thì thực tế cũng không có nhiều chi tiết về mối quan hệ khách hàng: điều mà được chú ý một cách đặc biệt trong hệ thống CRM. Chỉ thông qua các nỗ lực tích hợp hoặc xử lý kho dữ liệu thì những quan sát 360 độ đó mới trở nên hoàn toàn cân bằng. (Tất nhiên, SAP và Oracle sẽ cho rằng bạn sẽ không cần phải tích hợp bất cứ điều gì nếu bạn mua tất cả các tài chính, ERP và CRM của bạn từ họ. Cách tiếp cận một nhà cung cấp này là giải pháp tối ưu cho họ, nhưng đối với khách hàng ... không được nhiều lắm.)

CRM và tự động hóa công việc bán hàng
Nếu cốt lõi của ERP là tài chính và lập kế hoạch nhà máy, nền tảng của CRM là tự động hóa công việc bán hàng (SFA - sales force automation). Trong khi cả hai hệ thống hoạt động trên danh bạ các mối liên hệ, công ty và đơn đặt hàng, chúng hoạt động trong các ngữ cảnh rất khác nhau. Người sử dụng ERP gần như hoàn toàn tập trung vào các thực tế cứng từ "thỏa thuận đã cam kết" - các công ty là các khách hàng, đơn đặt hàng đã được đặt, các hợp đồng đã được ký kết. Ngược lại, người dùng SFA chủ yếu tập trung vào những thứ chưa hiện thực: những người có thể là người mua, công ty có thể trở thành khách hàng, đơn đặt hàng mà chúng tôi đang theo đuổi. Chắc chắn, luôn có quản lý khách hàng và chăm sóc sau bán hàng, nhưng đó không phải là nơi năng lượng nằm trong cuộc sống của các nhân viên bán hàng.

Hệ thống CRM phải hỗ trợ các quy trình bán hàng sau đây:

  • Khách hàng tiềm năng
  • Các bước đầu trong chu kỳ bán hàng (bao gồm demo và lập lịch cuộc gọi)
  • Dự báo và quản lý quy trình bán hàng
  • Tạo báo giá và cấu hình đơn đặt hàng
  • Xác nhận và thực hiện đơn đặt hàng
  • Lập hợp đồng và chấm dứt hợp đồng
  • Các khách hàng tiếp tục mua hàng
  • Gia hạn và đơn đặt hàng lặp lại
Tất nhiên, các hệ thống CRM như Salesforce có thể mở rộng các mảng như thương mại điện tử, dịch vụ khách hàng, call-centers và các lĩnh vực khác của mối quan hệ khách hàng. Ngay cả đối với hệ thống CRM mở rộng nhất, hơn 99% dữ liệu mà nó lưu trữ không liên quan đến hệ thống ERP.

Ngay cả hệ thống CRM đơn giản nhất cũng sẽ sử dụng hàng tá bảng cơ sở dữ liệu để quản lý các quy trình này và một số bảng khá rộng (không có gì bất thường khi có 200 cột cho thông tin khách hàng) và các bảng có thể có nhiều cấp độ mẹ-con. Các bảng CRM chủ yếu là các kiểu dữ liệu tiêu chuẩn, nhưng không giống như các hệ thống ERP, CRM lưu trữ rất nhiều văn bản không có cấu trúc và có thể chứa gigabyte tài liệu. Hệ thống CRM thường có một số điểm tích hợp với các bộ phận khác của cơ sở hạ tầng của công ty (chẳng hạn như trang web, quản lý hợp đồng, chữ ký điện tử, ERP, hệ thống giao hàng / phân phối và kế toán).

Rõ ràng, đầu ra của hệ thống CRM phải là đầu vào cho hệ thống ERP. Nhưng mối liên kết đó chỉ nên dành cho những công ty là khách hàng và đơn đặt hàng đã được ký kết. Đi theo hướng khác, nó rất hữu ích cho người dùng CRM để có được quyền truy cập chỉ đọc vào các lô hàng, ngày hứa hẹn, hóa đơn, số dư chưa thanh toán và các thông tin khác mà khách hàng có thể hỏi.

CRM và ERP được tích hợp như thế nào?
Phần mềm CRM như Salesforce.com có các chức năng lập đơn hàng, lập hóa đơn và - thông qua các sản phẩm của đối tác - tài chính. Một số nhà cung cấp ERP có toàn bộ CRM trong sản phẩm.

Nếu công ty của bạn đã cần đến một phần mềm kế toán thì bạn cũng sẽ có nhu cầu tích hợp ở mức cơ bản giữa kế toán với hệ thống SFA (tự động hóa công việc bán hàng) của bạn (ngay cả khi đó chỉ là một phần mềm quản lý danh sách các mối liên hệ). Trong kỷ nguyên điện toán đám mây này, không có nhiều lý do để sử dụng bảng tính excel cho sự tích hợp này - nhưng nó vẫn xảy ra.

Nhờ các công cụ tích hợp (với chi phí thấp), việc tích hợp có thể tự động. Trong nhiều trường hợp tích hợp 1 lần/1 ngày cũng đáp ứng được yêu cầu.

Tại các công ty lớn hơn thì tình hình được thúc đẩy bởi hai nhu cầu: chuỗi cung ứng và quản lý giao hàng/dịch vụ có thể cần các tích hợp ERP-CRM trong thời gian thực, còn các yêu cầu về phân tích dữ liệu thường có thể tốt với chu kỳ cập nhật hàng ngày - mỗi ngày 1 lần.

Do các quy định về bảo vệ dữ liệu chung và các quy định khác, điều quan trọng là phải giữ bí mật thông tin khách hàng và thông tin tài chính trong một số ít hệ thống nhất có thể. Do đó, việc tích hợp sẽ trở thành vấn đề trỏ đến “một nguồn cho mục dữ liệu đó” hơn là chuyển dữ liệu trên nhiều hệ thống. Điều này có thể làm cho việc tích hợp phức tạp hơn nhiều, vì các màn hình ứng dụng có thể phải được làm lại để hiển thị dữ liệu được lưu trữ trong một cơ sở dữ liệu khác, được quản lý bởi một ứng dụng khác, chạy trên một đám mây khác.

Việc tích hợp luôn là một vấn đề nóng.

 

FAST-Support

Member
Thành viên BQT
Hội viên mới
Nên hay không nên chỉnh sửa phần mềm theo yêu cầu đặc thù?

Một phần mềm có sẵn thường không đáp ứng được hết các yêu cầu đặc thù của doanh nghiệp và đòi hỏi các mức độ chỉnh sửa khác nhau.

Sổ cái



Có thể liệt kê các yêu cầu chỉnh sửa thường gặp dưới đây:
  1. Chỉnh sửa các mẫu chứng từ intừ chương trình. Ví dụ,
    • Chỉnh sửa để in hóa đơn trên mẫu hóa đơn in sẵn,
    • Chỉnh sửa để in chứng từ ngân hàng theo mẫu của từng ngân hàng
    • Chỉnh sửa tên gọi các chức danh trên các mẫu in chứng từ…
  2. Thay đổi độ rộng, thường là mở rộng, của một số trường thông tin.
  3. Thêm một số trường thông tin hoặc thay đổi quy tắc tính toán, xử lý khi nhập số liệu, chứng từ ban đầu.
  4. Thay đổi quy trình thực hiện công việc trong chương trình cho phù hợp với quy trình hiện có trong doanh nghiệp.
  5. Thay đổi các tính toán, xử lý số liệu cuối kỳ như cách tính giá thành sản phẩm, tính toán chiết khấu, hoa hồng cho khách hàng, đại lý…
  6. Chỉnh sửa lại một số báo cáo như sắp xếp cách trình trên báo cáo
  7. Làm thêm một số báo cáo đặc thù phục vụ yêu cầu quản lý riêng của doanh nghiệp
  8. v.v...
Tùy theo khả năng của từng phần mềm mà các yêu cầu nêu trên có thể được giải quyết như sau:
  1. Khai báo lại các tham số để có thể thay đổi tên gọi, ẩn/hiện các thông tin theo yêu cầu
  2. Khai báo lại các tham số tùy chọn để thay đổi cách tính toán, xử lý số liệu
  3. Khai báo để thiết lập quy trình xử lý số liệu theo yêu cầu
  4. Chương trình cho phép người sử dụng chỉnh sửa, thêm bớt các mẫu chứng từ, báo cáo dựa vào các mẫu hiện có trong chương trình
  5. Xuất số liệu ra excel và xử lý tiếp bên ngoài chương trình để đạt được yêu cầu mong muốn.
  6. Yêu cầu nhà cung cấp phần mềm lập trình hoặc can thiệp vào cơ sở dữ liệu để chỉnh sửa theo yêu cầu.
Nếu để đáp ứng các yêu cầu mà chỉ cần khai báo lại các tham số, khai báo thiết lập lại quy trình hoặc những can thiệp do tự người sử dụng có thể thực hiện được thì mọi việc đều đơn gian, tốt đẹp.

Trong trường hợp cần có sự can thiệp của nhà cung cấp, cần phải chỉnh sửa hoặc làm thêm mới chương trình, thì cần lưu ý, cân nhắc đến một số các điểm sau:
  • Thời gian và chi phí liên quan đến chỉnh sửa. Chi phí chỉnh sửa thường là khá cao so với giá của sản phẩm có sẵn.
  • Khả năng nâng cấp chương trình đã chỉnh sửa mỗi khi nhà cung cấp có bản nâng cấp cho chương trình chưa chỉnh sửa. Thông thường việc nâng cấp đối với chương trình đã có chỉnh sửa là rất khó khăn hoặc không thể thực hiện được.
Dưới đây là một vài kinh nghiệm liên quan đến vấn đề yêu cầu chỉnh sửa chương trình phần mềm để đáp ứng các đặc thù riêng của doanh nghiệp:
  • Người sử dụng có thể học cách tự chỉnh sửa những yêu cầu nhỏ mà chương trình cho phép, như thay đổi nhỏ trên báo cáo, lập thêm báo cáo mới dựa vào báo cáo hiện có... Có thể tự học qua tài liệu hướng dẫn sử dụng hoặc yêu cầu nhà cung cấp đào tạo.
  • Đối với các báo cáo đặc thù nhưng ít sử dụng đến và có thể lập được dựa trên số liệu xuất ra excel từ chương trình hoặc nhặt số liệu từ một vài báo cáo khác thì có thể không cần thiết yêu cầu phải chỉnh sửa, làm thêm.
  • Chỉ nên yêu cầu chỉnh sửa chương trình liên quan đến các công việc thực hiện thường xuyên hàng ngày như nhập liệu chứng từ đầu vào. Đối với các nghiệp vụ ít phát sinh thì có thể chấp nhận “đi đường vòng” hoặc thực hiện không được thuận tiện thay vì yêu cầu làm một màn hình nhập liệu riêng cho các nghiệp vụ này.
  • Đối với các doanh nghiệp nhỏ thì không nên yêu cầu cần đến lập trình chỉnh sửa chương trình. Chấp nhận thực hiện các công việc này bên ngoài chương trình.
  • Đối với trường hợp phải sửa đổi chương trình cho phù hợp với quy trình thực hiện công việc hiện tại thì có thể nên xem xét đến phương án là thay đổi quy trình thực hiện công việc hiện tại để giảm thiểu tối đa hoặc không cần phải sửa đổi chương trình.
  • Đặc biệt đối với các phần mềm, giải pháp lớn thì rất không nên yêu cầu cần đến lập trình chỉnh sửa chương trình.
 

FAST-Support

Member
Thành viên BQT
Hội viên mới
8 sai lầm lớn nhất trong quản lí CNTT​

Ai cũng từng mắc sai lầm. Hầu hết vô hại, một số gây phiền toái nhưng bỏ qua được, số khác có thể kéo cả sự nghiệp, hay công ty của bạn xuống hố.

Sai lầm trong quản lý công nghệ thông tin


Khi bạn phụ trách CNTT trong doanh nghiệp, bạn đối diện với rủi ro cao hơn và cái giá cho việc nếu mắc sai lầm có thể tệ hơn. Hãy xếp hạng các sai lầm này theo mức độ nguy hiểm:

  • Mức 1: chuyện phiền toái, có thể tâm sự ra ngoài
  • Mức 2: có thể cứu vãn, nhưng cũng đừng hy vọng còn được thăng tiến, và
  • Mức 3: bạn bị sa thải.
Dưới đây là các sai lầm lớn nhất bạn có thể phạm phải - và cách tránh hoặc cứu vãn tình thế.
Sai lầm quản lý CNTT số 1: mắc kẹt với nhà cung cấp
Mức độ nguy hiểm: 2

Có thể coi đây là một dạng cám dỗ. Nhà cung cấp hấp dẫn bạn bằng mức giá thấp và vô vàn lời hứa. Nhưng khi chộp được bạn, họ chẳng bao giờ để bạn đi.

“Hầu như nhà cung cấp nào cũng cố gắng tiếp cận và bám rễ vào môi trường của bạn.” - Andrew Howard, CTO tại Kudelski Security cho hay. “Có một vài lợi ích khi gắn bó với nhà cung cấp. Bên cạnh các khoản chiết khấu - giảm giá, việc sử dụng nhiều sản phẩm từ cùng một đơn vị cung cấp sẽ đảm bảo việc tích hợp giữa chúng mượt mà hơn, cũng như mức độ an ninh thắt chặt hơn. Nghĩa là bạn ít phải đàm phán lôi thôi. Điều này rất lý tưởng cho các tổ chức nhỏ.”

Nhưng khi bạn quyết định đã đến lúc thay đổi, đừng mong bên cung cấp sẽ giúp bạn. Howard hồi tưởng lại thời điểm còn làm việc ở công ty tư vấn, đơn vị cung cấp ứng dụng quản lý dòng công việc cố níu giữ công ty mình chuyển sang bên khác bằng việc từ chối bàn giao mã nguồn.

“Có chuyển lên mây cũng không làm chuyện này dễ hơn” - Howard thủ thỉ.

“Nhiều đối tác của chúng tôi có cùng vấn đề với các nhà cung cấp nền tảng dịch vụ (PAAS). Khi bạn đầu tư vào 1 cái, rất khó để chuyển nền tảng đó sang đối thủ cạnh tranh”.

Vì lý do này, Howard cho hay, các CIO mạo hiểm bằng việc hợp tác với nhiều nhà cung cấp đám mây và phát triển các thực tiễn quản lý công nghệ mạnh mẽ. Các nhà quản lý CNTT cần làm việc chặt chẽ hơn theo phương thức này để tránh bị phụ thuộc vào 1 nhà cung duy nhất.

“Cá nhân tôi tin vào đa dạng hoá. Đôi khi nỗi đau ngắn hạn có thể hữu ích cho bạn nếu xét trong dài hạn.”

Sai lầm quản lý CNTT số 2: xem đám mây như phần mở rộng của trung tâm dữ liệu
Mức độ nguy hiểm: 2

Tháng 02.2016, Best Egg Personal Loans chuyển từ đám mây riêng trên nền VMware sang đám mây công cộng chạy trên Amazon Web Service (AWS). Công việc này đã tốn hàng tháng để hoạch định, căn chỉnh, và mọi thứ có vẻ đã sẵn sàng, nhưng chỉ 2 tiếng sau, máy chủ AWS chết ngắt.

Biran Conneen, CIO/CTO của Marlette Funding cất lời - “Té ra sự ổn định của một máy chủ đám mây đơn còn bèo hơn máy chủ tự quản nữa. 99.99% thời gian vận hành của đám mây đến từ khả năng dự phòng máy chủ mới để thay thế những cái không hoạt động.”

Sự cố xảy ra vào cuối tuần, nên Best Egg đã có thể khắc phục sớm để không làm ngưng trệ việc sử dụng của khách hàng. Bài học rút ra là: ta không thể đối xử với máy chủ đám mây như một cái máy khác trong trung tâm dữ liệu của mình.

Sau đó, ưu tiên hàng đầu của Best Egg là đảm bảo nó được tối ưu cho môi trường đám mây. Và ưu tiên thứ 2 là: theo dõi sát sao chi phí sử dụng đám mây.

“Bạn có thể dự phòng một máy chủ bất kì lúc nào cho bất kì ai muốn nó. Làm điều đó sớm và đúng đắn bạn sẽ tốn 2 hay 3 lần con số bạn dự kiến.”

Conneen hiểu được rằng các máy chủ chỉ dùng được 1 lần: hư là bỏ luôn. Nên Best Egg đã xây dựng rất nhiều máy chủ cho hệ thống, và tạo ra các dòng lệnh tự động bật máy chủ mới khi một cái hoạt động không đúng.

Hiện giờ khi Best Egg phát hành phần mềm mới, họ đơn giản xây các máy chủ mới, đẩy code lên đó và tắt máy chủ cũ đi.

“Lợi ích của đám mây công cộng có thể được nhận ra khi bạn thiết kế hạ tầng của mình theo những điểm mạnh của đám mây công cộng. Chỉ chuyển máy chủ sang đám mây là không đủ, bạn phải chuyển cả cách tư duy và tiếp cận của mình.”
Sai lầm quản lý CNTT số 3: quá chú trọng vào business case
Mức độ nguy hiểm: 1

Để được duyệt khoản chi lớn cho CNTT, bạn cần xây dựng một business case (trường hợp, tình huống kinh doanh) vững chắc. Nên là các nhà quản lý thường dành nhiều tuần để nghiên cứu các phương án, xào nấu số liệu và trình bày trên Powerpoint.

Nhưng trừ khi bạn có một cấp trên sẵn sàng đứng ra ‘hứng đạn’ cho đề xuất của mình, còn không thì thất bại là bình thường, Mark Settle, CIO Okta, nhà cung cấp IAAS, chia sẻ.

“Nhiều năm trước khi tôi đang phỏng vấn cho vị trí CIO với một công ty Fortune 200 và đang thuyết trình cho CFO về tầm quan trọng của business case. CFO bảo tôi rằng ông ấy không tin bất kì con số nào trong business case và chỉ chấp thuận các dự án CNTT lớn khi có một lãnh đạo cam kết tận dụng các khả năng mới.”

Bất kì dự án CNTT chiến lược nào đều đòi hỏi một người có uy tín và đam mê đứng ra cam kết. Lấy được sự tin cậy của các quản lý cấp cao không chỉ giúp công việc CNTT của bạn dễ hơn, mà còn là phối hợp với các đội nhóm khác trong tổ chức, can thiệp các quy trình hiện tại và cải thiện chúng.

Hãy làm điều đó, và các lãnh đạo sẽ muốn lắng nghe ý tưởng của bạn khi cơ hội chiến lược xuất hiện.

Nếu bạn đi quá nhiều vào các business case mà không có các lãnh đạo cấp cao sẵn sàng đứng lên và bảo vệ bạn, bạn đang tự làm khó mình mà thôi.
Sai lầm quản lý CNTT số 4: thuê người có kỹ năng yếu hơn bạn
Mức độ nguy hiểm: 2

Để xây dựng một doanh nghiệp thành công, ta cần đội nhóm, nhưng chỉ cần một nhân viên thiếu năng lực đi kèm một thái độ xấu, là có thể mang mọi người và mọi thứ đi xuống.

“Sai lầm lớn nhất mà nhà quản lý CNTT mắc phải là tuyển những người có kỹ năng tư duy và công việc kém hơn mình”, Derek Johnson, VP BD công ty Stride Search.

Cái tôi của nhà quản lý thường ngăn họ tìm được đúng người. Ví dụ, cách đây 3 năm Stride Search tìm được một kỹ sư phần mềm và hệ thống mạng hoàn hảo cho khách hàng của mình, một *******. Ứng viên này rất hùng hồn, lôi cuốn, có luôn bằng tiến sĩ khoa học máy tính, thêm vài bằng sáng chế nữa. Ai cũng quý cả - trừ CTO của công ty đó.

“Cuộc phỏng vấn qua điện thoại rất tuyệt, nhưng phỏng vấn trực tiếp thì ôi thôi. Anh CTO, người vừa là đồng sáng lập, và quản lý tuyển dụng, dành toàn bộ cuộc phỏng vấn để xúc phạm ứng viên và tìm cách chiếm ưu thế cho mình. Những người còn lại trong đội ngũ quản lý muốn mở rộng thoả thuận công việc và quyền lợi, trong khi CTO thì từ chối. Cuối cùng ứng viên làm việc cho đối thủ, công ty mà sau đó nghiền nát ******* này.”

Các công ty có thể khắc phục vấn đề này bằng cách yêu cầu không một cá nhân nào có quyền phủ quyết quyết định tuyển dụng. Với các vị trí cao cấp, BOD lẫn cấp dưới tương lai của ứng viên nên được tham gia.

Một câu nói nổi tiếng “Cầu thủ hạng A thuê cầu thủ hạng A, hạng B thuê hạng C” thật sự đúng. Chẳng có gì tệ hơn chuyện thuê sai người, hay hụt mất người phù hợp.
Sai lầm quản lý CNTT số 5: đề bạt nhầm ứng viên nội bộ
Mức độ nguy hiểm: 2

Nhìn chung, đề bạt nhân viên nội bộ là chính sách rất tốt, nhưng bạn cần làm điều đó với những lí do đúng đắn.

Còn lý do tầm bậy? Là đề bạt ai đó như phần thưởng của lòng trung thành, dọn đường sự nghiệp cho họ, hoặc tự cho mình cảm giác là người sếp tốt. Tất cả đều có thể mang lại kết cục thất vọng, nhất là khi nhân viên không thực sự hợp với công việc đó.

Di Vece, chủ tịch Unosquare, một công ty phần mềm “Tôi từng thấy các nhà quản lý CNTT đưa một lập trình viên giỏi làm trưởng nhóm, và rồi nhân viên đó thấy lúng túng, xong nghỉ. Bạn nghĩ mình là sếp tốt nếu cho ai đó cơ hội leo lên nấc thang sự nghiệp, và kết cục là bạn mất luôn họ, bởi bạn kéo họ ra xa khỏi cái họ thực sự muốn làm.”

Di Vece nói rằng chuyện này xảy ra với mình cách đây 1 năm. Ông thuê một lập trình viên siêu sao cho khách hàng lớn nhất của Unnosquare và đưa anh này vào con đường thăng tiến nhanh chóng mặt. Anh được quản lý nhóm 5 người. Mọi thứ rất ok khoảng 3 tháng đầu, cho tới ngày anh ta vào văn phòng của Di Vecce và xin từ chức. Ngay cả khi công việc của nhóm rất tốt, anh vẫn thấy mình thất bại gì đó, không thể bị thuyết phục tiếp tục ở vai trò cũ.

“Tôi mất rất nhiều nhân viên giỏi bởi tôi nghĩ rằng tôi đang cho họ sự thoải mái trong sự nghiệp.”

Từ dạo đó, Di Vece đã lập một khung làm việc để ứng viên mới được đề bạt có thể cung cấp và nhận phản hồi thường xuyên, các giám sát viên có thể theo dõi cách họ thực hiện để giúp họ thành công.

Mặc dù vẫn cảm thấy đề bạt nội bộ là ý tưởng hay, Di Vece nói rằng điều đó không hẳn đúng trong mọi tình huống, nhà quản lý cần chọn ứng viên nội bộ 1 cách sáng suốt.
Sai lầm quản lý CNTT số 6: áp dụng cơ chế linh hoạt lên các hệ thống lõi
Mức độ nguy hiểm: 3

Với sự bùng nổ các dịch vụ đám mây và nhu cầu tăng trưởng kinh doanh, các CIO hiểu rằng rất nhiều vấn đề CNTT trong tổ chức của họ đang vượt khỏi tầm kiểm soát.

Nhưng các cơ chế chuyển giao linh hoạt cho phép công ty đưa các thư mục cài đặt ứng dụng hoặc dịch vụ vi mô lên đám mây có thể có tác động đáng sợ lên hệ thống CNTT lõi thuộc trách nhiệm của CIO - như email, dịch vụ điện thoại, ERP, các ứng dụng văn phòng.

“Tôi chứng kiến ngày càng nhiều CIO mất việc vì không thể duy trì dịch vụ email hơn bất kì vấn đề nào khác. Những cơ chế linh hoạt này thường đi ngược lại nguyên tắc kiểm soát thay đổi mạnh mẽ và nghiêm ngặt cần thiết cho hệ thống lõi. Nếu chúng gặp vấn đề, doanh nghiệp có thể mất tiền rất nhanh.”

Để hạn chế vấn đề, CIO cần vẽ ra các biên giới rõ ràng, cho phép thay đổi trên các hệ thống kinh doanh và thi hành các kiểm soát thay đổi nghiêm ngặt lên hệ thống lõi.
Sai lầm quản lý CNTT số 7: Nói OK quá nhiều
Mức độ nguy hiểm: 2

Các quản lý CNTT cấp cao thường bị kết tội vì nói “Không” với đổi mới. Nhưng vấn đề lớn hơn là họ không biết làm sao để lắng mọi người xuống, và đối diện với rủi ro mất kiểm soát an ninh hệ thống.- Richard Henderson, chiến lược gia an ninh toàn cầu của Absolute.

“Bao nhiêu lần các nhân viên CNTT hay nhân viên bảo mật nhận cuộc gọi từ ai đó ở vị trí cao hơn yêu cầu truy cập vào thứ gì đó có tính rủi ro? Bao nhiêu lần các đơn vị kinh doanh trong tổ chức thích “chơi trội” và triển khai công cụ hay dịch vụ đám mây mới mà thiếu sự chẩn đoán hay phê duyệt của bộ phận CNTT? "

Các giải pháp lưu trữ đám mây và SaaS có thể mang lại lợi ích lớn cho đội nhóm. Nhưng khi các nhà quản lý CNTT chấp thuận mọi yêu cầu, họ tạo ra những lỗ hổng mới và những điểm mù trong tổ chức.

Rất khó từ chối CTO khi người này có một yêu cầu đặc biệt, nhưng bạn cần có sẵn một kế hoạch để xử lý những bất chợt này. Bạn cần có một kế hoạch quản lí tài sản vững chắc, cũng như là phần mềm theo dõi các thiết bị đầu cuối và cảnh báo khi người dùng truy cập vào các dịch vụ đám mây thông dụng.

Nói OK quá nhiều thường làm cho việc giữ mọi thứ đâu ra đó mất tính khả thi.
Sai lầm quản lý CNTT số 8: giấu chuyện
Mức độ nguy hiểm: 3

Khi một dự án lớn bắt đầu đi sai hướng, nhiều nhà quản lý CNTT bắt đầu ém nhẹm vấn đề, hy vọng sửa chữa trước khi cấp trên chú ý. Mọi thứ thường xấu đi từ lúc đó. Cuối cùng, họ vòng vo thừa nhận rằng code mới cập nhật làm cho toàn hệ thống chết đứ đừ suốt 48 tiếng, hoặc họ cần 4 triệu đô khác để hoàn thành dự án, họ mất đi sự tín nhiệm.

Càng cho biết tin xấu sớm chừng nào thì càng tốt, bởi tin xấu chẳng bao giờ tự tốt lên. Người ta càng sớm bắt tay vào giải quyết nó, thì khả năng bạn cứu vãn dự án và quay lại lộ trình càng dễ xảy ra.

Báo tin xấu chẳng bao giờ dễ, nhưng mọi chuyện sẽ tốt hơn nếu bạn thiết lập và duy trì mối quan hệ công việc tốt với các lãnh đạo công ty.

Quy tắc số 1 là đừng bao giờ xuất hiện trước cửa nhà cấp trên khi hỏi về tiền hay tìm kiếm sự tha thứ.

Các quản lý cần tạo ra cơ hội nói chuyện với CFO và các lãnh đạo khác. Điều này không dễ với những ai có thiên hướng về công nghệ, nhưng đó là những kỹ năng cần phát triển.
 

FAST-Support

Member
Thành viên BQT
Hội viên mới
Ngân hàng điện tử là gì? Lợi ích của ngân hàng điện tử?

Ngân hàng điện tử là gì?

Ngân hàng điện tử
(E-banking) là dịch vụ được cung cấp bởi các ngân hàng, cho phép khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua hệ thống điện tử viễn thông mà không cần đến quầy giao dịch.

E-banking tạo điều kiện cho sự phát triển của giao dịch ngân hàng online, người dùng chỉ cần kết nối internet trên các thiết bị điện tử (máy tính, laptop, máy tính bảng, điện thoại thông minh) là có thể truy cập vào tài khoản ngân hàng chỉ với một cú nhấp chuột và dễ dàng thực hiện các giao dịch thông qua ngân hàng điện tử.

Dịch vụ ngân hàng điện tử

Ngân hàng điện tử được xem là một “thỏa thuận ngân hàng” mà qua đó khách hàng có thể thực hiện các giao dịch khác nhau qua internet. Các giao dịch này được mã hóa đầu cuối đảm bảo an toàn, bảo mật cho người dùng. Ngân hàng điện tử bao gồm các tiện ích như chuyển tiền trực tuyến, kiểm tra sao kê tài khoản, thanh toán hóa đơn điện nước, mở tài khoản ngân hàng, đăng ký khoản vay, gửi tiết kiệm online…

Dịch vụ ngân hàng điện tử thúc đẩy các loại giao dịch không giấy tờ, không dùng tiền mặt đi kèm với một số ràng buộc về trách nhiệm, quyền hạn và chi phí. Một số dịch vụ ngân hàng điện tử có thể kể đến như:
  • Ngân hàng trực tuyến (Internet banking): Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng trên trang web thông qua các thiết bị như máy tính, laptop, máy tính bảng và điện thoại thông minh có kết nối internet.
  • Ngân hàng trên di động (Mobile banking): Hầu hết các ngân hàng đã thiết kế các ứng dụng di động (app mobile) để khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngay trên app. Người dùng chỉ cần cài đặt app mobile banking ngay trên chiếc di động của mình và kích hoạt dịch vụ này là có thể sử dụng dịch vụ.
  • ATM: Máy rút tiền tự động là một trong những dịch vụ đầu tiên của ngân hàng điện tử và được dùng phổ biến nhất hiện nay. Với ATM, người dùng không chỉ rút tiền mà còn có thể chuyển tiền trong và ngoài tài khoản, kiểm tra tài khoản, thay đổi mã PIN cho thẻ ghi nợ...
  • Thẻ ghi nợ (Debit cards): Thẻ ghi nợ được liên kết với tài khoản ngân hàng vì thế người dùng có thể dùng để rút tiền mặt tại ATM, thanh toán tại các điểm bán hàng (POS), mua sắm trực tuyến.
  • Thẻ tín dụng: Cho phép người dùng có thể chi tiêu trước, trả tiền sau, hỗ trợ người dùng chi tiêu, thanh toán mua sắm ngay cả khi tài khoản không có tiền với nhiều ưu đãi hấp dẫn.
  • Điểm bán hàng (POS): Các địa điểm, cửa hàng bán lẻ cho phép thanh toán bằng thẻ (ghi nợ, thẻ tín dụng) cho các giao dịch mua hàng hóa hoặc dịch vụ.
  • ...
Lợi ích của ngân hàng điện tử

Tiện lợi, nhanh chóng


Đây chính là ưu điểm mà tất cả khách hàng đều dễ nhận thấy nhất khi sử dụng. E-banking giúp liên kết với ngân hàng để thực hiện các giao dịch mọi lúc mọi nơi.

Ưu điểm này rất có ý nghĩa với khách hàng khi họ tiết kiệm được rất nhiều thời gian, có thể giao dịch trực tiếp 24/7 mà không cần đến quầy giao dịch của ngân hàng. Chỉ cần có nhu cầu thì bạn có thể thực hiện nhanh chóng bằng một chiếc smartphone có kết nối internet.

An toàn, bảo mật

Với ngân hàng điện tử, khách hàng sẽ không cần quá lo lắng về vấn đề bị đánh cắp thông tin tài khoản khi giao dịch trực tuyến. Ngân hàng điện tử có tính bảo mật cao với nhiều lớp xác minh khi thực hiện giao dịch.

loi-ich-cua-ngan-hang-dien-tu.jpg

Ngân hàng điện tử đã mang đến rất nhiều tiện lợi và đang được sử dụng rộng rãi.
Tiết kiệm chi phí giao dịch, tăng doanh thu

Sử dụng ngân hàng điện tử không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn giảm bớt chi phí giao dịch, chi phí vận hành ngân hàng. Mức phí mà ngân hàng điện tử đưa ra thường thấp hơn mức phí các giao dịch truyền thống. Ngoài ra, E-banking còn giúp các ngân hàng tăng doanh thu đối với các dịch vụ cung cấp.

Tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng phạm vi hoạt động

Ngân hàng điện tử là một trong số giải pháp ngân hàng chất lượng và đạt hiệu quả cao, nâng cao tính cạnh tranh của ngân hàng. Không những thế, E-banking còn là công cụ quảng bá thương hiệu của chính ngân hàng một cách sinh động, hiện đại.

Dịch vụ kết nối ngân hàng điện tử trên phần mềm kế toán, phần mềm ERP

Nhằm mục đích kết nối giải pháp quản trị doanh nghiệp với các nghiệp vụ tài chính ngân hàng tạo nên một hệ sinh thái thống nhất, giảm thiểu các tác nghiệp thủ công cho doanh nghiệp, hiện nay các ngân hàng đã tích cực phối hợp với các nhà cung cấp và cho ra mắt dịch vụ kết nối ngân hàng điện tử trên phần mềm ERP/phần mềm kế toán.

Kế toán không cần mất thời gian di chuyển đến ngân hàng, sau đó lại mất thêm thời gian nhập liệu trên phần mềm ERP/phần mềm kế toán, chỉ cần thao tác trên phần mềm đã được kết nối với ngân hàng điện tử là có thể thực hiện các giao dịch và phần mềm sẽ tự động ghi nhận số liệu và hạch toán giúp giảm bớt các tác vụ, giảm thiểu tối đa các sai sót, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp có thể dễ dàng thực hiện các giao dịch ngân hàng điện tử ngay trên phần mềm ERP/phần mềm kế toán với các chức năng như: Chuyển tiền trực tuyến, chi lương tháng, tra cứu thông tin tài khoản, báo cáo đối soát với các ngân hàng… Các giao dịch được thực hiện trên nền tảng công nghệ hiện đại, với khả năng bảo mật cao, giúp các doanh nghiệp hoàn toàn yên tâm về an toàn dữ liệu.

Nắm bắt xu hướng đồng thời mong muốn nâng cao trải nghiệm của khách hàng, FAST và BIDV đã nghiên cứu và cho ra mắt dịch vụ ngân hàng điện tử trên phần mềm ERP: FAST-BIDV giúp doanh nghiệp có thể giao dịch ngân hàng mọi lúc mọi nơi trên mọi thiết bị.

 

CẨM NANG KẾ TOÁN TRƯỞNG


Liên hệ: 090.6969.247

KÊNH YOUTUBE DKT

Kỹ thuật giải trình thanh tra BHXH

Đăng ký kênh nhé cả nhà

SÁCH QUYẾT TOÁN THUẾ


Liên hệ: 090.6969.247

Top