kết quả từ 1 tới 8 trên 8

Ðề tài:
Kiểm toán - các bài báo về kiểm toán

  1. #1
    Tham gia ngày
    May 2007
    Bài gởi
    36
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 97 lần trong 26 bài viết
    Rep Power
    16

    Kiểm toán nội bộ: Sự phát triển tất yếu

    Nếu như kiểm toán độc lập đã có mặt ở Việt Nam được hơn 10 năm thì cho đến nay, khái niệm kiểm toán nội bộ vẫn còn xa lạ với nhiều nhà quản lý. Tuy nhiên, yêu cầu hội nhập WTO, sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán và những vụ bê bối về quản trị ở một số doanh nghiệp lớn của Nhà nước gần đây cho thấy sự cần thiết của kiểm toán nội bộ ở doanh nghiệp.

    Trên thế giới, kiểm toán nội bộ đã ra đời từ lâu nhưng chỉ phát triển từ sau các vụ gian lận tài chính ở Công ty Worldcom và Enron (Mỹ) những năm 2000-2001 và đặc biệt là khi Luật Sarbanes-Oxley của Mỹ ra đời năm 2002. Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty.

    Trong khi hoạt động của kiểm toán độc lập giới hạn ở việc kiểm tra báo cáo tài chính (mức độ trung thực và hợp lý), hoạt động của kiểm toán nội bộ không bị giới hạn ở bất kỳ phạm vi nào trong công ty, từ mua hàng, sản xuất, bán hàng đến quản lý tài chính, nhân sự hay công nghệ thông tin. Mục đích của kiểm toán nội bộ là phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp, chứ không phải cho đối tác bên ngoài. Kiểm toán nội bộ không chỉ đánh giá các yếu kém của hệ thống quản lý mà còn đánh giá các rủi ro cả trong và ngoài công ty.

    Lợi ích của kiểm toán nội bộ

    Kiểm toán nội bộ có thể đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích. Đây là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp. Thông qua công cụ này, ban giám đốc và hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động tốt hơn, quản lý rủi ro tốt hơn, tăng khả năng đạt được các mục tiêu kinh doanh. Một doanh nghiệp có kiểm toán nội bộ sẽ làm gia tăng niềm tin của các cổ đông, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán về hệ thống quản trị ở đây. Các thống kê trên thế giới cho thấy các công ty có phòng kiểm toán nội bộ thường có báo cáo đúng hạn, báo cáo tài chính có mức độ minh bạch và chính xác cao, khả năng gian lận thấp và cuối cùng là hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn so với các công ty không có phòng kiểm toán nội bộ.

    Tuy nhiên, có một thực tế là không phải doanh nghiệp nào cũng thấy hết các lợi ích trên và có biện pháp để hiện thực hóa các lợi ích đó. Nhiều doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nóng và đã không cân bằng được ba mục tiêu bắt buộc của phát triển bền vững. Đó là tăng trưởng, hiệu quả và kiểm soát. Kết quả là tam giác ba mục tiêu này không thực sự mở rộng ở cả ba góc trong quá trình tăng trưởng một cách đồng bộ. Thay vào đó là bị co méo ở hai góc kia, tăng trưởng tuy có đạt, nhưng hiệu quả và kiểm soát lại giảm sút hoặc không ngang tầm với sự tăng trưởng.

    Để phát triển bền vững, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải cân bằng cả ba mục tiêu trên. Đây là bài toán thực sự của quản trị. Doanh nghiệp nào xem nhẹ một trong ba mục tiêu trên thì sớm muộn cũng phải trả giá.

    Thực tế kiểm toán nội bộ ở Việt Nam

    Hiện nay khung pháp lý cao nhất cho hoạt động kiểm toán nội bộ là Luật Doanh nghiệp (cũ và mới). Khái niệm đầu tiên liên quan đến kiểm toán nội bộ quy định trong luật là ban kiểm soát do cổ đông bầu ra. Tuy nhiên, vai trò, chức năng, trách nhiệm của ban kiểm soát còn quá mơ hồ, làm công việc của thanh tra mang tính chất đột xuất, theo yêu cầu hơn là thường xuyên.

    Các doanh nghiệp nhà nước có thêm một quy định, hướng dẫn về vấn đề kiểm toán nội bộ (Quyết định 832/TC/QQĐ/CĐKT năm 1997). Theo đó, phòng kiểm toán nội bộ vẫn báo cáo lên tổng giám đốc như một bộ phận thuộc sự điều hành của tổng giám đốc. Điều này làm giảm tính độc lập của phòng kiểm toán nội bộ, vì toàn bộ hệ thống quản lý trong doanh nghiệp (do ban giám đốc quy định) đều là đối tượng đánh giá của kiểm toán nội bộ. Trong khi đó, theo thông lệ phổ biến trên thế giới, phòng kiểm toán nội bộ chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp lên cho ban kiểm soát hoặc hội đồng quản trị, tức là cấp cao hơn ban giám đốc.

    Ở Việt Nam, trong những năm qua, ban kiểm soát ở các doanh nghiệp nhà nước và một số ngân hàng đã hoạt động nhưng chưa mang lại hiệu quả do vai trò, chức năng, trách nhiệm chưa rõ ràng và còn thiếu công cụ để thực hiện công tác giám sát.

    Ở các loại hình công ty khác, hoạt động kiểm toán nội bộ ít nhiều đã hình thành khi các công ty thực hiện hệ thống quản lý chất lượng hay môi trường (ISO). Các công ty có được chứng chỉ ISO bắt buộc phải thực hiện đánh giá nội bộ (thực chất là kiểm toán nội bộ) ít nhất mỗi năm một lần về mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn ISO. Việc đánh giá này thường do một ban hay một bộ phận - thường gọi là ban ISO hay ban đảm bảo chất lượng - thực hiện và báo cáo lên tổng giám đốc. Tuy nhiên, do đánh giá nội bộ chỉ giới hạn ở việc tuân thủ các tiêu chuẩn của ISO (chủ yếu về mặt thủ tục, văn bản), nên hầu như không giúp cải tiến nhiều về hệ thống kiểm soát ở công ty. Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp thực hiện ISO đã nhận ra điều này và đã thiết lập bộ phận đánh giá nội bộ ở cấp độ cao hơn, đầy đủ hơn và thực chất hơn.

    Ở Việt Nam, việc xây dựng kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp chắc chắn sẽ phát triển trong thời gian tới cùng với sức phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Sự đòi hỏi của các nhà đầu tư về một hệ thống quản trị chuyên nghiệp sẽ buộc các doanh nghiệp phải chú ý xây dựng hệ thống kiểm toán nội bộ sao cho thật hiệu quả.

    Xu hướng thiết lập hệ thống kiểm toán nội bộ cũng sẽ phát triển trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Các doanh nghiệp này đang ngày càng có đóng góp cao về doanh thu, lợi nhuận đối với công ty mẹ ở nước ngoài. Và rất nhiều công ty mẹ đó đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ hay ở các thị trường chứng khoán lớn khác trên thế giới. Do đó, dần dần, các công ty nước ngoài ở Việt Nam cũng buộc phải tuân thủ những quy định như Luật Sarbanes-Oxley của Mỹ, tức là phải thực hiện kiểm toán nội bộ. Các công ty này sẽ ngày càng nhận được nhiều chương trình kiểm toán nội bộ do công ty mẹ thực hiện hoặc sẽ phải xây dựng bộ phận kiểm toán độc lập của riêng mình.

    Làm sao xây dựng bộ phận kiểm toán nội bộ?

    Việc xây dựng bộ phận kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp phải được thực hiện qua nhiều bước. Trước hết, doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu cụ thể và mục đích cụ thể của bộ phận này. Kế đó là phải xác định rõ ràng cơ cấu tổ chức, vai trò, chức năng và quyền hạn của bộ phận kiểm toán nội bộ, có thể bao gồm cả một văn kiện như điều lệ kiểm toán để đảm bảo đủ tính độc lập cho bộ phận kiểm toán nội bộ hoạt động. Việc tiếp theo quan trọng không kém là tuyển dụng kiểm toán viên trưởng, kiểm toán viên và đào tạo họ. Một điều cần lưu ý là nghiệp vụ kiểm toán nội bộ khác nhiều kiểm toán độc lập và đòi hỏi trình độ chuyên môn và kinh nghiệm rất cao. Sau cùng, bộ phận kiểm toán nội bộ cần thực hiện kiểm toán thí điểm và tốt nhất là có sự đánh giá của một công ty tư vấn độc lập, để rút kinh nghiệm trước khi bắt đầu xây dựng chiến lược và kế hoạch kiểm toán dài hạn.

    Kiểm toán nội bộ là hoạt động đánh giá và tư vấn nội bộ trong doanh nghiệp, có tính chất độc lập và khách quan, nhằm đem lại giá trị và cải tiến công tác quản lý ở doanh nghiệp thông qua việc tăng cường kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro.

    Các bài viết khác cùng chuyên mục:


  2. Có 11 thành viên sau đây cảm ơn truonghuong vì bài viết có ích này:


  3. # ADS
    DanketoanAds Circuit advertisement
    Tham gia ngày
    Always
    Bài gởi
    Many
    Công ty CP Tư Vấn Thuế Vinatax CleverCFO Lac Viet

    Dịch vụ đại lý thuế VINATAS: Dịch vụ Đại Lý Thuế | Dịch vụ quyết toán Thuế | Dịch vụ kiểm toán Thuế | Dịch vụ hoàn thuế | Dịch vụ kế toán trọn gói

     
  4. #2
    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gởi
    1,568
    Cảm ơn
    1,169
    Được cảm ơn 3,986 lần trong 2,092 bài viết
    Rep Power
    68

    Kiểm toán hoạt động ( p.1)

    Kiểm toán hoạt động là loại hình kiểm toán mới được phát triển trên thế giới trong thời gian gần đây. Sự phát triển này được bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX ở khu vực công và sau đó lan sang khu vực tư nhân.



    Ở Mỹ, Canada và một vài nước châu Âu như Thụy Điển, Đức..., những nghị sĩ ở các quốc gia này yêu cầu cung cấp những thông tin về tính hiệu quả và sự hữu hiệu của các khoản chi tiêu công quỹ. Họ tỏ ra không hài lòng với vai trò truyền thống của kiểm toán – chỉ tập trung vào tính tuân thủ các quy định về các khoản chi tiêu mà thôi – mà họ muốn biết đích thực “giá trị của đồng tiền”1 có được thực hiện khi chi dùng công quỹ hay không. Đồng thời họ cũng mong muốn những người có trách nhiệm trong việc thu, chi và quản lý công quỹ phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm giải trình của mình về những vấn đề đó.
    Những yêu cầu trên đã tạo nên những thách thức buộc các kiểm toán viên phải cố gắng đáp ứng bằng cách mở rộng phạm vi hoạt động của mình. Vì thế, họ bắt đầu triển khai kiểm toán hoạt động, sau đó, ở một vài quốc gia trên, Luật kiểm toán và những luật khác có liên quan đã được ban hành (chẳng hạn ở Anh, Luật kiểm toán quốc gia năm 1983, Luật tài chính của chính quyền địa phương năm 19822) trong đó có quy định cả kiểm toán viên nhà nước và kiểm toán viên nội bộ đều phải xem xét đến giá trị của đồng tiền khi tiến hành công việc kiểm toán của mình.

    Ở Việt Nam, thuật ngữ và khái niệm “kiểm toán hoạt động” chỉ mới được biết đến vào những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX qua các nguồn tài liệu từ nước ngoài. Thế nhưng cho đến nay, số lượng người hiểu biết cũng như điều kiện để tiếp cận kiến thức và nội dung của loại kiểm toán này và vận dụng đó vào trong thực tế vẫn còn rất nhiều hạn chế so với kiểm toán báo cáo tài chính.

    Bài viết này nhằm giới thiệu những nét cơ bản về khía cạnh giá trị của đồng tiền qua ba thuật ngữ tính kinh tế, tính hiệu quả và sự hữu hiệu của hoạt động, để giúp hiểu rõ về bản chất, nội dung và phạm vi của loại hình kiểm toán hoạt động, cũng như lợi ích của nó đối với xã hội và đối tượng được kiểm toán.

    Nhưng trước khi tìm hiểu về ba khía cạnh trên, chúng ta cần phải có cái nhìn khái quát về kiểm toán hoạt động.

    1. Kiểm toán hoạt động là gì?

    Khi đề cập đến kiểm toán hoạt động nói chung, có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng để diễn đạt. Có thể kể đến một vài thuật ngữ được sử dụng phổ biến hiện nay, đó là Performance Audit, Operational Audit, Value for Money Audit, Management Audit, Comprehensive Audit …3. Sự đa dạng về thuật ngữ đã làm nảy sinh những rắc rối và gây khó khăn cho nhiều người trong việc nhận thức về bản chất, cũng như xác định nội dung và phạm vi thực hiện của chúng.

    Do đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về kiểm toán hoạt động, nên chúng tôi xin giới thiệu một vài định nghĩa như sau :

    Cơ quan kiểm toán nhà nước Mỹ (The United States General Accounting Office) định nghĩa như sau:

    “Kiểm toán hoạt động bao gồm kiểm toán tính kinh tế, tính hiệu quả và kiểm toán chương trình.

    (a) Kiểm toán tính kinh tế và tính hiệu quả bao gồm việc xác định: (1) Đơn vị có được nguồn lực (nhân viên, tài sản, và không gian), bảo vệ và sử dụng chúng có tính kinh tế và hiệu quả không ?, (2) Nguyên nhân của những hoạt động thiếu hiệu quả và không có tính kinh tế, và (3) Đơn vị có tuân thủ theo pháp luật và các quy định liên quan đến những vấn đề về tính kinh tế và sự hiệu qủa không?

    (b) Kiểm toán chương trình bao gồm việc xác định (1) Mức độ hoàn thành theo kết quả mong muốn hoặc lợi ích do các cơ quan lập pháp hay đơn vị có thẩm quyền đề ra, (2) Sự hữu hiệu của các tổ chức, các chương trình, các hoạt động hoặc chức năng, và (3) Đơn vị có tuân thủ luật pháp hoặc các quy định có liên quan đến chương trình đó không ?” 4

    Còn theo Tổ chức kiểm toán toàn diện của Canada (The Canadian Comprehensive Audit Foundation) định nghĩa kiểm toán hoạt động là:

    “Một cuộc kiểm toán toàn diện là việc kiểm tra nhằm đánh giá một cách khách quan và có tính xây dựng trong phạm vi:

    ° Các nguồn tài lực, nhân lực và vật lực được quản lý có quan tâm đến tính kinh tế, tính hiệu quả và sự hữu hiệu ; và

    ° Mối quan hệ về trách nhiệm giải trình phải được tách biệt rõ ràng.” 5

    Theo quan điểm của Tổ chức kiểm toán toàn diện của Canada, kiểm toán toàn diện có thể đươc xem xét bao gồm 3 loại công việc kiểm toán mà chúng có mối quan hệ với nhau nhưng cũng có thể tách ra theo từng loại riêng biệt gồm: kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán qua giá trị của đồng tiền (value for money audit).

    Hai định nghĩa trên thuộc phạm vi của kiểm toán hoạt động trong khu vực nhà nước, còn trong khu vực tư nhân, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) đã định nghĩa về kiểm toán hoạt động như sau :

    “Kiểm toán hoạt động là một quá trình đánh giá có hệ thống về sự hữu hiệu, tính hiệu quả, và tính kinh tế của các hoạt động dưới sự kiểm soát của nhà quản lý và báo cáo cho các cá nhân thích hợp về kết quả của việc đánh giá, đồng thời đưa ra những kiến nghị để cải tiến.” 6

    Ngoài ra, còn nhiều định nghĩa khác nữa liên quan đến kiểm toán hoạt động với những quan điểm có thể khác nhau, nhưng nội dung của các định nghĩa này tập trung trình bày ở ba khía cạnh đó là tính kinh tế (Economy), tính hiệu quả (Efficiency) và sự hữu hiệu (Effectiveness7). Do đó, có thể xem đây là những tiêu chuẩn quan trọng dùng để xem xét kết quả của hoạt động được kiểm toán. Vì vậy, người ta còn gọi loại kiểm toán này bằng thuật ngữ đơn giản là kiểm toán 3 E.
    0909.211.060
    Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc


  5. Có 5 thành viên sau đây cảm ơn Susun vì bài viết có ích này:


  6. #3
    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gởi
    1,568
    Cảm ơn
    1,169
    Được cảm ơn 3,986 lần trong 2,092 bài viết
    Rep Power
    68

    Kiểm toán hoạt động tt

    2. Những điều cần suy nghĩ về ý nghĩa của 3 chữ E
    Do bất kỳ quá trình hoạt động của một bộ phận, tổ chức nào đều liên quan đến yếu tố đầu vào (Input), quá trình thực hiện (Process) và kết quả đầu ra (Output). Để hiểu rõ hơn về nội dung và ý nghĩa của ba chữ E nói trên, trước hết cần thống nhất các thuật ngữ dưới đây:

    ° Yếu tố đầu vào: chính là nguồn lực gồm : con người, máy móc thiết bị, nguyên liệu, công cụ, thông tin, năng lượng, đất đai,… (gọi tắt là nhân lực, vật lực và tài lực) để tạo ra kết quả đã được xác định hoặc mong đợi.

    ° Quá trình thực hiện: là tiến trình sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được kết quả như mong muốn. Trong các yếu tố đầu vào, con người và quá trình làm việc quyết định tỷ lệ nguồn lực tiêu hao trong quá trình hoạt động để tạo ra kết quả. Như vậy con người và quá trình làm việc có ảnh hưởng quyết định đến năng suất của hoạt động.

    ° Kết quả đầu ra: là những sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu của con người. Kết quả đầu ra được xác định trong giới hạn số lượng và chất lượng và có xem xét đến cả sự ảnh hưởng, tác động của kết quả tạo ra đối với xã hội và môi trường xung quanh.

    Sau đây là định nghĩa về 3 E :

    Tính kinh tế

    Tính kinh tế có thể định nghĩa là “tối thiểu hoá chi phí cho các nguồn lực sẽ được sử dụng nhưng vẫn đảm bảo đạt được kết quả đầu ra có chất lượng phù hợp”. Như vậy, nội dung của tính kinh tế nhấn mạnh đến yếu tố đầu vào, tức là việc có được tất cả các nguồn lực để sử dụng hoặc cần đến. Khi kiểm toán tính kinh tế, kiểm toán viên cố gắng xem các nguồn lực có được đó có đúng số lượng, đúng địa điểm, đúng thời gian, đúng chủng loại và đúng giá cả hay không. Cụ thể hơn là kiểm toán viên xem đơn vị có khả năng giảm thấp hơn việc chi tiêu so với quy định nhưng vẫn đạt được nguồn lực như mong muốn hay không? Hoặc khi đơn vị đã có những nguồn lực đó rồi, còn có cách lựa chọn nào khác để giảm được chi phí thấp hơn so với hiện tại không? Nếu không còn cách nào khác chứng tỏ rằng đơn vị đã thật sự tiết kiệm chi phí khi mua sắm các nguồn lực đó.

    Tuy nhiên, việc xác định được những điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng dù giả sử rằng đã có những tiêu chuẩn có thể dùng để xem xét đến tính kinh tế của các nguồn lực. Vì vậy, đòi hỏi kiểm toán viên phải rất thận trọng khi xây dựng các tiêu chuẩn dùng để đánh giá nó.

    Có thể nêu ra đây một ví dụ để thấy được sự khó khăn về tiêu chuẩn dùng để xem xét tính kinh tế, đó là chính sách đấu thầu để chọn nhà cung cấp bỏ giá thấp nhất khi đơn vị mua sắm tài sản. Cho dù đấu thầu là phương pháp áp dụng phổ biến trên thế giới và là phương pháp có hiệu quả để giảm bớt chi phí khi mua sắm tài sản, nhưng ngày nay các nhà thầu thường thông đồng với nhau để phá vỡ sự cạnh tranh lành mạnh và làm mất đi ý nghĩa của đấu thầu công khai. Vì vậy, việc áp dụng tiêu chuẩn giá thầu thấp nhất để xem xét tính kinh tế của nguồn lực có thể sẽ không được thỏa đáng.

    Tính hiệu quả

    Tính hiệu quả được hiểu là việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo đạt được các mục tiêu của đơn vị. Có nghĩa là kết quả được tạo ra nhiều hơn so với mục tiêu, mục đích hoặc kế hoạch nhưng vẫn sử dụng đúng nguồn lực đã được xác định, hoặc kết quả tạo ra đúng như mục tiêu, mục đích hoặc kế hoạch nhưng nguồn lực sử dụng lại ít đi. Nói cách khác tính hiệu quả nhằm hướng đến việc cải tiến hoạt động để giảm giá thành hoặc giảm được nguồn lực sử dụng trên một đơn vị kết quả tạo ra. Như vậy, tính hiệu quả liên quan mật thiết giữa “yếu tố đầu vào” và “kết quả đầu ra” và nó được thể hiện qua chỉ tiêu năng suất đạt được. Năng suất là tỷ số giữa số lượng kết quả tạo ra (sản phẩm hoặc dịch vụ) được chấp nhận với lượng yếu tố đầu vào (các nguồn lực) được sử dụng để tạo ra chúng. Sau đây là một vài ví dụ về quan hệ của tính hiệu quả:Tỷ lệ giữa số giường bệnh và số bệnh nhân trong một bệnh viện, tỷ lệ giữa số giáo viên và học sinh trong một trường học, tỷ lệ giữa thời gian vận hành máy móc thiết bị và sản lượng sản phẩm trong một nhà máy…

    Rõ ràng tính hiệu quả là một khái niệm tương đối vì nó được đo lường bằng cách so sánh giữa năng suất với các chỉ tiêu, mục đích hoặc tiêu chuẩn được mong đợi. Ta có thể xem tính hiệu quả qua sự so sánh đưới đây:


    Thực tế

    Mục tiêu hoặc kế hoạch



    >


    Hoặc






    <



    Để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này, lấy một ví dụ đơn giản sau: Có một dự án khuyến khích sản xuất một mặt hàng để xuất khẩu, mục tiêu đặt ra là giá trị hàng xuất khẩu mỗi năm là 20 tỷ đồng và được ngân sách cấp 20 tỷ/năm/dự án. Giả sử dự án được giao cho 3 đơn vị thực hiện. Sau một năm thực hiện, kết quả như sau :

    Đơn vị : Tỷ đồng.

    Chi phí của nguồn lực
    Giá trị hàng xuất khẩu
    Nguồn lực / Kết quả
    Kết quả / Nguồn lực

    0
    1
    2
    3 =1/2
    4 =2/1

    Kế hoạch
    20,00
    20,00
    1,00
    1,00

    Đơn vị 1
    20,00
    30,00
    0,67
    1,50

    Đơn vị 2
    13,40
    20,00
    0,67
    1,50

    Đơn vị 3
    16,00
    24,00
    0,67
    1,50


    Qua ví dụ trên, nhìn vào cột (4) ta thấy cả 3 đơn vị hiệu quả hoạt động gần như bằng nhau. Nhưng tỷ lệ sử dụng nguồn lực và giá trị sản phẩm tạo ra lại khác nhau do điều kiện cụ thể của từng đơn vị.

    Về cơ bản, việc đánh giá tính hiệu quả của hoạt động đã có tiêu chuẩn chung được chấp nhận. Vấn đề đặt ra là kiểm toán viên cần phải triển khai thành các tiêu chuẩn cụ thể. Kiểm toán viên thường phối hợp với nhà lãnh đạo của đơn vị được kiểm toán và các chuyên gia để xác định hoặc xây dựng chúng. Ngay cả khi đã có sẵn những tiêu chuẩn, kiểm toán viên cũng cần xem xét những tiêu chuẩn đó có còn phù hợp không? Bởi lẽ, có thể những tiêu chuẩn đó đã lỗi thời vì tình hình thực tiễn đã có sự thay đổi. Ví dụ, tiêu chuẩn để đánh giá tính hiệu quả đối với quá trình xử lý nghiệp vụ thanh toán khi chưa sử dụng máy vi tính phải được xem xét lại nếu đơn vị chuyển sang xử lý bằng máy vi tính. Lúc này, tuy thời gian cần thiết để xử lý một nghiệp vụ có thể được rút ngắn nhưng chi phí có thể lại tăng lên. Vì vậy, kiểm toán viên cần phải thận trọng với những sự thay đổi trước khi chấp nhận tiêu chuẩn.

    Một vấn đề cũng cần phải xem xét là việc đánh giá tính hiệu quả trong trường hợp hoạt động được kiểm toán mang tính chất chu kỳ hoặc tính chất cơ học và kết quả tạo ra là đồng nhất sẽ tương đối dễ dàng xác định hơn là hoạt động được kiểm toán không có những đặc tính trên. Ví dụ, đánh giá tính hiệu quả của một nhà máy phát điện dễ dàng hơn đánh giá tính hiệu quả của một bác sĩ, vì mỗi bệnh nhân có thể mắc một loại bệnh và mức độ bệnh tật cũng khác nhau.

    Thông thường tính hiệu quả được hiểu là vấn đề nội bộ của một đơn vị. Tính hiệu quả không ảnh hưởng hay tác động trực tiếp đến các hoạt động của đơn vị đối với môi trường bên ngoài mà nó đang hoạt động. Ví dụ, trong một bệnh viện, đánh giá tính hiệu quả có thể đánh giá qua việc sử dụng số giường bệnh, số ca phẫu thuật, hoặc việc sử dụng thuốc men … Tuy nhiên, việc đánh giá như thế không cho thấy ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chăm sóc hay tình trạng bệnh tật hoặc sức khoẻ trong cộng đồng mà bệnh viện đó phục vụ.

    Tính hiệu quả và tính kinh tế còn có ý nghĩa gần giống nhau nên đôi khi khó tách biệt được một cách rõ ràng. Nếu xét việc có được các nguồn lực như là các hoạt động của đơn vị thì việc tối thiểu hoá chi phí để có được nguồn lực đúng số lượng, đúng địa điểm, đúng thời gian, đúng chủng loại và đúng giá cả sẽ là “tính hiệu quả” của hoạt động tạo ra các nguồn lực đó. Còn nếu xét hoạt động ở phạm vi rộng hơn, tính kinh tế chỉ là một bộ phận của tính hiệu quả, vì tiết kiệm được chi phí cho nguồn lực cuối cùng cũng nhằm để giảm giá thành hoặc nguồn lực trên một đơn vị kết quả tạo ra đã định. Nói cách khác, việc có được các nguồn lực có tính kinh tế góp phần tạo nên tính hiệu quả bằng cách tối thiểu hoá chi phí cho đầu vào được sử dụng.

    Sự hữu hiệu

    Sự hữu hiệu được xác định như là một khái niệm hướng đến cái cuối cùng là đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu, mục đích đã được định trước cho một hoạt động hoặc một chương trình đã được thực hiện (đạt được kết quả thoả đáng từ việc sử dụng các nguồn lực và các hoạt động của tổ chức). Vì vậy, điểm quan trọng trong kiểm toán sự hữu hiệu là phải xem xét giữa kết quả mong đợi trong kế hoạch với kết quả thực tế qua hoạt động.

    Trong tất cả các ngữ nghĩa của từ hữu hiệu thì có lẽ ngữ nghĩa phổ biến nhất nhưng lại phức tạp nhất là liên quan đến việc hoàn thành các mục tiêu. Những nhà nghiên cứu khác nhau, với những hệ thống đánh giá khác nhau, có thể sẽ có những quan điểm riêng của mình về sự hữu hiệu, nhưng điều đưa họ xích lại gần nhau về mặt quan điểm chính là việc hoàn thành mục tiêu hay là những hoạt động để đáp ứng được mục tiêu.

    Mặc dù quan điểm cho rằng trọng tâm của kiểm toán sự hữu hiệu là kiểm tra việc hoàn thành mục tiêu là ít gây tranh luận, thế nhưng kiểm toán viên vẫn có thể sẽ gặp phải những rắc rối và khó khăn xung quanh vấn đề này như là :

    ° Các mục tiêu thường xác định không rõ ràng, phức tạp, thay đổi và đôi khi lại mâu thuẫn với nhau.

    ° Việc xác định mức độ hoàn thành và đơn vị dùng để đo lường mức độ hoàn thành thường không rõ ràng.

    ° Nhiều kỹ thuật hoặc chiến lược thực hiện tuy khác nhau nhưng đôi khi lại cho ra kết quả giống nhau.

    ( Những hoàn cảnh và điều kiện làm căn cứ để xây dựng mục tiêu thường là ý thích của nhà lãnh đạo mà không có sự tham gia của công chúng.

    Tóm lại, sự hữu hiệu được nhìn nhận như thế nào phụ thuộc vào người đang nghiên cứu. Công chúng, các cơ quan của chính phủ, nhà lãnh đạo của đơn vị được kiểm toán có thể có những quan điểm khác nhau. Mỗi quan điểm đó đều có sự hợp lý trong bối cảnh riêng của nó.

    Sự hữu hiệu cũng có mối quan hệ mật thiết với tính hiệu quả, bởi vì nó được xem như yếu tố quan trọng trong việc xác định mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và sự hữu hiệu của hoạt động (Cost-Effectiveness), đó là việc đạt được các mục đích với một chi phí thấp nhất, hoặc với chi phí ít hơn, hoặc ít nhất là với một chi phí hợp lý trong mối quan hệ với giá trị của kết quả tạo ra.

    Từ những vấn đề đã được phân tích ở trên ta có thể thấy giữa ba yếu tố tính kinh tế, tính hiệu quả và sự hữu hiệu có mối quan hệ với nhau, trong đó tính hiệu quả là yếu tố trung gian nối kết giữa tính kinh tế và sự hữu hiệu, được biểu hiện qua sơ đồ đưới đây :
    0909.211.060
    Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc


  7. Có 3 thành viên sau đây cảm ơn Susun vì bài viết có ích này:


  8. #4
    Tham gia ngày
    Sep 2008
    Bài gởi
    5
    Cảm ơn
    0
    Thanked 2 Times in 1 Post
    Rep Power
    0

    Ðề: Kiểm toán hoạt động tt

    Để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này, lấy một ví dụ đơn giản sau: Có một dự án khuyến khích sản xuất một mặt hàng để xuất khẩu, mục tiêu đặt ra là giá trị hàng xuất khẩu mỗi năm là 20 tỷ đồng và được ngân sách cấp 20 tỷ/năm/dự án. Giả sử dự án được giao cho 3 đơn vị thực hiện. Sau một năm thực hiện, kết quả như sau :

    Đơn vị : Tỷ đồng.

    Chi phí của nguồn lực
    Giá trị hàng xuất khẩu
    Nguồn lực / Kết quả
    Kết quả / Nguồn lực
    sorry vì mình post cho đủ 5 bài để download file

  9. Có 2 thành viên sau đây cảm ơn tvprintco vì bài viết có ích này:


  10. #5
    Tham gia ngày
    Oct 2008
    Bài gởi
    4
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 10 lần trong 3 bài viết
    Rep Power
    0

    "Kiểm toán nội bộ hiện đại"

    Kiểm toán nội bộ: Sự phát triển tất yếu
    ( Bình chọn: 5 -- Thảo luận: 5 -- Số lần đọc: 5478)
    Nếu như kiểm toán độc lập đã có mặt ở Việt Nam được hơn 10 năm thì cho đến nay, khái niệm kiểm toán nội bộ vẫn còn xa lạ với nhiều nhà quản lý. Tuy nhiên, yêu cầu hội nhập WTO, sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán và những vụ bê bối về quản trị ở một số doanh nghiệp lớn của Nhà nước gần đây cho thấy sự cần thiết của kiểm toán nội bộ ở doanh nghiệp.

    Trên thế giới, kiểm toán nội bộ đã ra đời từ lâu nhưng chỉ phát triển từ sau các vụ gian lận tài chính ở Công ty Worldcom và Enron (Mỹ) những năm 2000-2001 và đặc biệt là khi Luật Sarbanes-Oxley của Mỹ ra đời năm 2002. Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty.

    Trong khi hoạt động của kiểm toán độc lập giới hạn ở việc kiểm tra báo cáo tài chính (mức độ trung thực và hợp lý), hoạt động của kiểm toán nội bộ không bị giới hạn ở bất kỳ phạm vi nào trong công ty, từ mua hàng, sản xuất, bán hàng đến quản lý tài chính, nhân sự hay công nghệ thông tin. Mục đích của kiểm toán nội bộ là phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp, chứ không phải cho đối tác bên ngoài. Kiểm toán nội bộ không chỉ đánh giá các yếu kém của hệ thống quản lý mà còn đánh giá các rủi ro cả trong và ngoài công ty.

    Lợi ích của kiểm toán nội bộ

    Kiểm toán nội bộ có thể đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích. Đây là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp. Thông qua công cụ này, ban giám đốc và hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động tốt hơn, quản lý rủi ro tốt hơn, tăng khả năng đạt được các mục tiêu kinh doanh. Một doanh nghiệp có kiểm toán nội bộ sẽ làm gia tăng niềm tin của các cổ đông, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán về hệ thống quản trị ở đây. Các thống kê trên thế giới cho thấy các công ty có phòng kiểm toán nội bộ thường có báo cáo đúng hạn, báo cáo tài chính có mức độ minh bạch và chính xác cao, khả năng gian lận thấp và cuối cùng là hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn so với các công ty không có phòng kiểm toán nội bộ.

    Tuy nhiên, có một thực tế là không phải doanh nghiệp nào cũng thấy hết các lợi ích trên và có biện pháp để hiện thực hóa các lợi ích đó. Nhiều doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nóng và đã không cân bằng được ba mục tiêu bắt buộc của phát triển bền vững. Đó là tăng trưởng, hiệu quả và kiểm soát. Kết quả là tam giác ba mục tiêu này không thực sự mở rộng ở cả ba góc trong quá trình tăng trưởng một cách đồng bộ. Thay vào đó là bị co méo ở hai góc kia, tăng trưởng tuy có đạt, nhưng hiệu quả và kiểm soát lại giảm sút hoặc không ngang tầm với sự tăng trưởng.

    Để phát triển bền vững, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải cân bằng cả ba mục tiêu trên. Đây là bài toán thực sự của quản trị. Doanh nghiệp nào xem nhẹ một trong ba mục tiêu trên thì sớm muộn cũng phải trả giá.

  11. Có 2 thành viên sau đây cảm ơn matden_9 vì bài viết có ích này:


  12. #6
    Tham gia ngày
    Oct 2008
    Bài gởi
    89
    Cảm ơn
    14
    Được cảm ơn 58 lần trong 36 bài viết
    Rep Power
    12

    57 Các vấn đề về kiểm toán nội bộ!

    Kiểm toán viên nội bộ là ai?

    Quyết định 832/TC/QĐ/TCKT ngày 28-10-1997 của Bộ trưởng BTC (một trong những văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động kiểm toán nội bộ tại các DNNN ở Việt Nam) không định nghĩa nhưng có quy định chức năng của kiểm toán nội bộ là kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động.

    Theo IIA, Viện Kiểm toán Nội bộ: “Kiểm toán nội bộ là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó. Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh giá và cải tiến một cách hệ thống và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro.” IIA là tổ chức nghề nghiệp dành cho kiểm toán viên nội bộ thành lập năm 1941 có trụ sở chính tại Hoa Kỳ và hơn 122.000 hội viên trên toàn cầu.

    Cần kiểm toán viên nội bộ?
    Là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu của hệ thống quản lý doanh nghiệp, rõ ràng kiểm toán nội bộ đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích. Nhờ nó mà Ban giám đốc và Hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động và quản lý rủi ro tốt hơn một khi quy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp vượt quá tầm kiểm soát trực tiếp của một nhóm người. Có kiểm toán nội bộ như thêm “tai, mắt” cho Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Điều này làm tăng niềm tin của cổ đông vào chất lượng quản lý và kiểm soát nội bộ, tăng giá trị doanh nghiệp.

    Thực tiễn trên thế giới cho thấy, các công ty có kiểm toán nội bộ thì thường khả năng gian lận thấp và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn.

    Đặc thù và vị trí của kiểm toán nội bộ trong công ty

    Là nghề đầy áp lực, thách thức, đòi hỏi tính chuyên nghiệp nhưng có thu nhập tương đối cao, được tôn trọng trong xã hội. Là nghề “kiểm tra và tư vấn cho các nghề khác” (trong cùng công ty).

    Theo quan điểm trước đây, kiểm toán nội bộ tập trung vào công tác kiểm tra kế toán, thông tin tài chính của công ty. Ngày nay, đối tượng của kiểm toán nội bộ gần như là toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp.

    Có nhiều ý kiến khác nhau về vị trí của kiểm toán nội bộ, nhưng có hai quan điểm chính là: Một là Kiểm toán nội bộ thuộc Ủy ban Kiểm toán do Đại hội đồng cổ đông bầu chọn, có trách nhiệm giám sát cả hoạt động của hội đồng quản trị và ban giám đốc.

    Hai là Kiểm toán nội bộ do tổng giám đốc bổ nhiệm sau khi được phê chuẩn của hội đồng quản trị, có trách nhiệm kiểm toán mọi hoạt động công ty theo chỉ đạo của tổng giám đốc. Như vậy, dù theo quan điểm nào thì kiểm toán nội bộ cũng là một trong những cấp kiểm soát cao nhất công ty, báo cáo trực tiếp cho ban kiểm soát, hội đồng quản trị và tổng giám đốc.

    Cơ hội nào cho các kiểm toán viên nội bộ

    Do được tiếp cận với các lĩnh vực hoạt động của tổ chức để thực hiện chức năng kiểm tra, phân tích, đánh giá và tư vấn, vô hình trung, kiểm toán viên nội bộ thụ đắc được vị thế mà không ai khác trong tổ chức có được. Vì thế khi hoạt động kiểm toán nội bộ ngày càng hoàn thiện và phát triển thì phòng kiểm toán nội bộ chính là một môi trường thực hành lý tưởng để đào tạo các giám đốc tương lai. Thực tế, nhiều tập đoàn đa quốc gia đã sử dụng phòng kiểm toán nội bộ như là nơi ươm mầm, rèn luyện các tài năng lãnh đạo.

    Kiểm toán viên nội bộ vừa là chức danh vừa nghề đòi hỏi kỹ năng và đạo đức cao. Vì thế chỉ khi người làm kiểm toán nội bộ có đủ tính chuyên nghiệp và chứng nhận đào tạo bài bản, có thâm niên thực tế thì năng lực và danh hiệu mới được công nhận. Hiện Việt Nam chưa có tổ chức nghề nghiệp dành riêng cho kiểm toán viên nội bộ.

    Kiểm toán viên nội bộ làm gì?

    1. Nhà tư vấn kiểm soát và kiểm toán cho giám đốc điều hành và các giám đốc chức năng trong công ty.

    Giám sát tiến trình vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ và nhận dạng mọi cơ hội cải tiến hệ thống này. Đánh giá nguồn lực công ty để sử dụng phù hợp tránh lãng phí, thất thoát. Làm việc với kiểm toán độc lập của công ty về những vấn đề liên quan. Đề xuất chính sách bảo vệ tài sản và quản lý rủi ro.

    2. Kiểm toán tuân thủ pháp luật, nội quy và chính sách điều hành. Góp phần đảm bảo hoạt động công ty tuân thủ quy định pháp luật, phù hợp với đạo đức kinh doanh. Đảm bảo các chức năng của công ty được thực hiện nghiêm chỉnh, vận hành hợp lý.

    3. Thực hiện một phần chức năng kiểm soát tài chính. Kiểm tra chất lượng thông tin, báo cáo kế toán. Rà soát tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính.

    Để trở thành kiểm toán viên nội bộ chuyên nghiệp

    Tố chất phải có để trở thành kiểm toán viên nội bộ chuyên nghiệp: Thông minh, nhạy bén nhưng phải kiên nhẫn, cẩn thận. Thận trọng nhưng quyết đoán. Có óc phân tích và phê phán.

    Đam mê nghề nghiệp, đặc biệt là thích khám phá rủi ro, sai sót, gian lận. Có kỹ năng giao tiếp và khai thác thông tin tốt.

    Điều 12, Quyết định 832/TC/QĐ/TCKT thì: “Kiểm toán viên nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước phải có các tiêu chuẩn: phẩm chất trung thực… đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế, tài chính, kế toán, hoặc quản trị kinh doanh; đã công tác thực tế trong lĩnh vực quản lý tài chính, kế toán từ 5 năm trở lên, trong đó có ít nhất là 3 năm làm việc tại doanh nghiệp nơi được giao nhiệm vụ kiểm toán viên. Đã qua huấn luyện về nghiệp vụ kiểm toán, kiếm toán nội bộ theo nội dung chương trình thống nhất của Bộ Tài chính và được cấp chứng chỉ.”

    Thực tế cho thấy phần lớn nội dung trong Quy định này là không khả thi.

    Trên thế giới, dù không có những tiêu chuẩn ngành về yêu cầu trình độ nghề nghiệp, nhưng thông thường các kiểm toán viên nội bộ xuất thân từ các công ty kiểm toán độc lập, có bằng cử nhân tài chính, luật hay quản trị và chứng chỉ Kiểm toán viên Công chứng (CPA) hay chứng chỉ Kiểm toán nội bộ (CIA).

    Có vẻ như thiếu tính sáng tạo nhưng là một giải pháp khôn ngoan và hợp lý khi xác định rằng để phát triển một nghề nghiệp mới, tham khảo thông lệ quốc tế, kế thừa những gì đã có thì vẫn tốt hơn là bắt đầu từ con số không. Vì thế theo chúng tôi, để phát triển nghề kiểm toán nội bộ tại Việt Nam, việc tiếp cận được những kiến thức nghề nghiệp cốt lõi, cập nhật, chắt lọc từ những chương trình đào tạo kiểm toán quốc tế là rất quan trọng. Những kiến thức này cùng với những trải nghiệm nghề nghiệp bản thân sẽ là hành trang cần thiết cho sự thành công.

    Tóm lại để trở thành một kiểm toán viên nội bộ chuyên nghiệp phải có những tố chất mà một “Kiểm toán viên nội bộ” cần phải có (vì kiểm toán cũng là một nghệ thuật). Đồng thời, phải học những kiến thức nền tảng, cốt lõi mà một kiểm toán viên nội bộ cần phải trang bị (vì kiểm toán là một khoa học). Trên cơ sở kiến thức nền tảng đã có, phải tự đào sâu, tìm tòi nghiên cứu kiến thức và thực hành kiểm toán liên tục, không ngừng (học suốt đời - Long-life learning). Phải rèn sức khỏe để có thể “chiến đấu” lâu dài, bền bỉ trong điều kiện áp lực cao…

    Và cuối cùng, kiểm toán viên nội bộ phải có cái “DŨNG” vững vàng và cái “TÂM” trong sáng, để bền lòng vững bước trước mọi nguy nan và cám dỗ khi mà có lúc người kiểm toán viên nội bộ phải đối diện với những hành vi gian lận và phạm pháp…


    Theo KiemToan

  13. Có 7 thành viên sau đây cảm ơn ATM919 vì bài viết có ích này:


  14. #7
    Tham gia ngày
    Jul 2007
    Nơi ở
    Miền Trung!
    Bài gởi
    426
    Cảm ơn
    772
    Được cảm ơn 466 lần trong 250 bài viết
    Rep Power
    23

    Kiểm toán - các bài báo về kiểm toán

    Đối với các bài báo sưu tầm mà ko có ý kiến của chủ topic, TT mạn phép gộp lại cho gọn box.
    Nếu muốn làm, sẽ tìm ra phương tiện; nếu không muốn làm, sẽ tìm ra lý do.

  15. #8
    Tham gia ngày
    Jul 2007
    Nơi ở
    Miền Trung!
    Bài gởi
    426
    Cảm ơn
    772
    Được cảm ơn 466 lần trong 250 bài viết
    Rep Power
    23

    Việt Nam cần 7000 Kiểm toán viên cho nền kinh tế

    ''Việt Nam đã là một trong những nền kinh tế vận hành tốt nhất trên thế giới suốt thập kỷ vừa qua. Đáp ứng sự phục hồi của nền kinh tế sau khủng hoảng, vào năm 2010, Việt Nam sẽ cần khoảng 7.000 kiểm toán viên và 150 công ty kiểm toán''.

    Ông Geof Rankin, Tổng giám đốc Hiệp hội kế toán công chứng Australia (CPA) đã cho biết như vậy khi nói về nhu cầu nhân sự của ngành kiểm toán tại Việt Nam trong tương lai.



    Nói về Việt Nam, ông Geof Rankin cho hay: “Việt Nam là một mảnh đất hứa hẹn cơ hội lớn và là một trong những câu chuyện thành công ngoạn mục nhất về phát triển kinh tế trong thời gian gần đây. Giống như hầu hết các quốc gia khác, các bạn cũng trải qua những suy thoái nhưng nền kinh tế đã thể hiện được sức bật trước khủng hoảng tài chính toàn cầu và tương lai phía trước đầy hứa hẹn”.



    Ông Geof Rankin lấy dẫn chứng từ những con số dự đoán mức tăng trưởng vừa phải cho Việt Nam năm 2009 từ Ngân hàng Phát triển Châu Á ở mức 4,5% và phục hồi ở mức 6,5% cho năm sau.



    Dù sử dụng thước đo nào trên thế giới thì đây vẫn thật sự là một sự tăng trưởng tuyệt vời. Trong những năm tới, chúng tôi dự đoán Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh các cải cách kinh tế và mở cửa hơn nữa nền kinh tế theo đúng những cam kết của mình với WTO. Những động thái này sẽ bảo toàn dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam - yếu tố này cùng với xuất khẩu là một trong những động lực chính cho sự tăng trưởng của đất nước các bạn”, vị đại diện của CPA nhấn mạnh.



    Khi thế giới phục hồi sau suy thoái, những kế toán, kiểm toán viên có trình độ chuyên nghiệp sẽ được cần đến nhiều hơn bao giờ hết và nhu cầu đối với các công ty kế toán, kiểm toán ở Việt Nam cũng tương tự như vậy. Theo dự đoán của ông Geof Rankin, Việt Nam sẽ cần tới 7.000 kiểm toán viên và 150 công ty kiểm toán cho giai đoạn phục hồi sau suy thoái kinh tế, tức là vào năm 2010.



    Được biết, hiện Việt Nam có gần 900 kiểm toán viên đang hành nghề, trong đó có khoảng 300 người có chứng chỉ kiểm toán quốc tế. Đây là con số khiêm tốn so với nhu cầu của các doanh nghiệp, nhất là đối với các công ty chứng khoán.



    Để tạo thuận lợi cho hoạt động kiểm toán - kế toán, thời gian qua, các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trong lĩnh vực này, đồng thời xây dựng 26 chuẩn mực kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu của các tổ chức kinh tế Việt Nam khi kêu gọi vốn đầu tư trong nước, phát hành cổ phiếu ra nước ngoài hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài.



    Bộ Tài chính cũng đang hợp tác với các hiệp hội kiểm toán quốc tế của Anh,Singapore, Australiađể tổ chức các khóa đào tạo, trao đổi kinh nghiệm cho các kiểm toán viên Việt Nam.



    (Theo Dân trí)
    Nếu muốn làm, sẽ tìm ra phương tiện; nếu không muốn làm, sẽ tìm ra lý do.

Thông tin về chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện đang có 1 người xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TOÁN
    By dat_butmuc in forum Kiểm toán độc lập
    Trả lời: 21
    Bài mới gởi: 30-08-2013, 08:11
  2. Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trong một tổ chức
    By Simon in forum Hệ thống kiểm soát nội bộ
    Trả lời: 11
    Bài mới gởi: 07-03-2013, 05:34
  3. Vai trò và trách nhiệm của một kiểm toán viên là gì?
    By Sói con in forum Kiểm toán độc lập
    Trả lời: 9
    Bài mới gởi: 24-02-2012, 03:14
  4. Tại sao những kế toán giỏi lại làm kiểm toán tồi?
    By PPK in forum Kỹ năng - Kinh nghiệm
    Trả lời: 3
    Bài mới gởi: 30-09-2011, 11:39
  5. Pháp luật về kế tóan áp dụng trong họat động kinh doanh
    By admin in forum CẬP NHẬT VĂN BẢN PHÁP LUẬT
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 24-06-2006, 11:58

Quyền hạn

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •