kết quả từ 1 tới 4 trên 4

Ðề tài:
Chi phí biên

  1. #1
    Tham gia ngày
    Jun 2006
    Bài gởi
    905
    Cảm ơn
    3,695
    Được cảm ơn 12,060 lần trong 1,112 bài viết
    Rep Power
    145

    Icon1 Chi phí biên

    Việc thay đổi một mức độ hoạt động nào đó của doanh nghiệp luôn dẫn tới sự thay đổi chi phí biến đổi và thậm chí cả chi phí cố định. Phần thay đổi này được gọi là chi phí biên. Nắm bắt được chi phí biên theo từng mức sản xuất với một cấu trúc cho trước, cho phép tối ưu năng lực sản xuất, xác định giá bán và tối đa lợi nhuận. Thông qua chi phí biên, nhà sản xuất có thể xác định được mức giá bán tối thiểu đối với từng khu vực khách hàng nhất định và đối với các đơn đặt hàng lớn mà không làm ảnh hưởng tới chính sách thương mại hiện tại.
    Vì sao các công ty có thể áp dụng các chính sách giá dựa theo số lượng thành phẩm tiêu thụ? Các đợt bán hàng giảm giá liệu có đem lại kết quả lỗ cho công ty? Việc mở rộng quy mô sản xuất và thay đổi cấu trúc tài sản cố định có ảnh hưởng như thế nào đối giá thành sản phẩm? Các câu hỏi trên có thể được làm sáng tỏ khi sử dụng chi phí biên trong kế toán quản trị.
    Chi phí biên là chi phí trên đơn vị thành phẩm được sản xuất và tiêu thụ cuối cùng. Chi phí biên bao gồm các chi phí biến đổi bổ sung bởi có sự gia tăng trong sản xuất, các chi phí này có thể là gián tiếp (tiêu thụ năng lượng) hoặc trực tiếp (nguyên vật liêu, nhân công). Chi phí biên cũng có thể bao gồm chi phí cố định nếu việc gia tăng sản xuất đòi hỏi sửa đổi hoặc bổ sung về cấu trúc (chi phí lắp đặt và khấu hao máy móc bổ sung, lương cho một bộ phận mới). (Xem thêm [Chỉ có thành viên mới có thể nhìn thấy links. Bạn hãy nhấn vào đây để đăng ký...] ).
    Có thể đơn giản hoá bằng biểu thức:
    Chi phí biên MC = (DC / Dn)
    Với: DC = thay đổi chi phí và Dn = thay đổi sản lượng tính ra đơn vị.
    Tài sản cố định đã đuợc đầu tư lắp đặt tức là chi phí cố định của một mức sản xuất nhất định (gọi là mức sản xuất thứ nhất) được thực hiện ngay khi chưa thực sự làm ra bất cứ sản phẩm nào. Chi phí biên là chi phí hình thành khi bắt đầu vận hành máy móc, sử dụng nguyên vật liệu và nhân lực để tạo ra sản phẩm (gọi là mức sản xuất thứ hai). Mức này chỉ bao gồm các chi phí biến đổi vì cơ cấu chưa cần phải sửa đổi hay bổ sung.
    Như vậy, hai mức sản xuất đầu tiên sẽ có chi phí ngày càng giảm vì cơ cấu tài sản cố định được tận dụng, nhất là khi mức tiêu thụ gia tăng. Tuy nhiên, mức sản xuất với tài sản cố định đã đầu tư (thứ nhất) sẽ chỉ tăng tới một giá trị nhất định, sau đó sẽ cần các khoản đầu tư thêm, vì những lý do như tăng công suất, đảm bảo điều kiện lao động... Cũng phải kể thêm đến các chi phí phân phối, đặc biệt trong các điều kiện khó tiếp cận khách hàng. Khi đó, chi phí biên trên đơn vị sản phẩm sẽ bắt đầu tăng lên (vì bao gồm cả chi phí cố định và biến đổi bổ sung do việc gia tăng sản xuất).
    So sánh với chi phí trung bình (bằng tổng chi phí chia cho số lượng sản phẩm) ta thấy chi phí trung bình không chỉ tính chi phí của mức sản xuất sau cùng mà còn tính đến cả chi phí của tất cả các mức sản xuất trước. Chi phí trung bình của mức sản xuất thứ nhất vì vậy bằng chính chi phí cố định (thứ nhất). Như vậy chí phí trung bình của mức tiếp theo sẽ cao hơn chi phí biên của mức đó vì có tính cả phần chi phí cho cơ cấu cố định.
    Khi chi phí biên giảm, chi trung bình cũng giảm vì một phần chi phí cố định được phân bổ vào số lượng tăng dần các sản phẩm (mẫu số tăng dần) và vì chi phí biến đổi của mức cuối cùng thấp hơn của mức trước nó. Tuy nhiên, khi chi phí biên bắt đầu tăng (do phải đầu tư thêm) thì chi phí trung bình vẫn có thể tiếp tục giảm vì tỷ trọng đầu tư bổ sung không đáng kể so với mức đầu tư ban đầu. Chi phí trung bình sẽ tăng lên khi chi phí biến đổi trên từng đơn vị sản phẩm không còn được bù đắp bởi phần chi phí cố định. Điểm sản lượng tối ưu đạt được khi chi phí trung bình bằng chi phí biên, khi đó chi phí sản xuất trên từng đơn vị sản phẩm ở mức thấp nhất.
    Phân tích chi phí biên giúp các công ty xác định được chính sách giá thấp đối với các khách hàng mới, các khách hàng đặt số lượng lớn, hoặc mức giá thanh lý kho trong thời điểm "sold" hàng năm. Việc hạ giá bán được áp dụng nếu không làm ảnh hưởng tới các khách hàng hiện tại (sold là một ví dụ điển hình) và mỗi sản phẩm sản xuất thêm có chi phí biên thấp mà không làm thay đổi cấu trúc sản xuất.
    Xin đưa ra một ví dụ: chẳng hạn công ty có mức tiêu thụ 5000 sản phẩm ở mức giá 30$/1chiếc.



    đơn vị: $
    Lợi nhuận trên 1 đơn vị sản phẩm là: 30-22,5="7,5$." Tổng lợi nhuận là: 7,5x5000="37500$."



    - Trường hợp 1: một khách hàng đặt hàng 1000 sản phẩm và yêu cầu một mức giá thấp hơn. Như vậy, sản lượng sẽ tăng lên 6000 chiếc. Nếu việc bán 1000 sản phẩm này không làm thay đổi việc bán hàng thường nhật (nhất là đối với các khách hàng thường xuyên) và không làm thay đổi cấu trúc tài sản cố định, công ty có thể bán 1000 sản phẩm đó với giá bằng chi phí biên là 25,2$. Nếu công ty bán số thành phẩm với giá 27$/1chiếc, tổng lợi nhuận khi ấy là: 37500+(2 -25,2)x1000="39300$."



    - Trường hợp 2: doanh nghiệp quyết định giảm giá 5% cho các khách hàng có từ 2 con trở lên. Nghiên cứu thị trường cho thấy lượng tiêu thụ có thể tăng lên tới 6000 chiếc. Xin chớ nhầm lẫn rằng tổng thu nhập sẽ tăng lên [30x(1-5%) - 25,2]x1000="3300$" vì một số khách hàng trước đó cũng thuộc nhóm ưu tiên và vì thế cũng được hưởng ưu đãi giảm giá. Ví dụ trong số khách hàng cũ có 500 khách hàng có từ 2 con trở lên, như vậy, phần giảm giá con thiếu là: [30x(1-5%) - 25,2]x500="750$" tức là tổng lợi nhuận chỉ tăng lên: 3300-750="2550$."



    Phương pháp chi phí biên thường được sử dụng khi nhà quản lý cần có quyết sách đúng đắn về một hoạt động mới hoặc nhằm thay đổi một hoạt động hiện tại. Thông qua chi phí biên, người ta có thể tính toán và so sánh doanh thu bổ sung kỳ vọng. Chi phí biên cũng được sử dụng để so sánh và đưa ra quyết định loại bỏ hoặc giảm các hoạt động được coi là không hiệu quả. Cần đặc biệt lưu ý tới khái niệm này khi việc thay đổi cấu trúc là điều kiện nhất thiết cho việc phát triển. Các tính toán chi phí biên cũng cần được thực hiện đều đặn trong dài hạn nhằm đảm bảo tính bền vững.

    Theo vietmanagement

    Các bài viết khác cùng chuyên mục:

    thay đổi nội dung bởi: cayman, 24-06-2007 lúc 06:17
    Hạnh phúc

    Có việc gì đó để làm
    Có ai đó để yêu
    Có điều gì đó để hy vọng

  2. # ADS
    DanketoanAds Circuit advertisement
    Tham gia ngày
    Always
    Bài gởi
    Many
     
  3. #2
    Tham gia ngày
    Jul 2007
    Bài gởi
    543
    Cảm ơn
    29
    Được cảm ơn 435 lần trong 235 bài viết
    Rep Power
    23
    To: Cayman

    Công thức: Pmax khi MC = TRC, hay lợi nhuận cao nhất khi chi phí biên = doanh thu biên.

    Cái này tớ học đã lâu rùi nhưng còn tơ lơ mơ lắm. Cayman hãy giải thích & cho VD giúp tớ nhé.

    Xin cảm ơn

  4. #3
    Tham gia ngày
    Jun 2006
    Bài gởi
    905
    Cảm ơn
    3,695
    Được cảm ơn 12,060 lần trong 1,112 bài viết
    Rep Power
    145
    Trích Nguyên văn bởi trung30 View Post
    To: Cayman

    Công thức: Pmax khi MC = TRC, hay lợi nhuận cao nhất khi chi phí biên = doanh thu biên.

    Cái này tớ học đã lâu rùi nhưng còn tơ lơ mơ lắm. Cayman hãy giải thích & cho VD giúp tớ nhé.

    Xin cảm ơn
    hic, hôm nay mới thấy câu hỏi này của bạn. Bạn xem nội dung về tối đa hóa lợi nhuận dưới đây nhé, hy vọng là có ích :hat:

    Tối đa hoá lợi nhuận

    Các nhà kinh tế học cho rằng các công ty lựa chọn mức giá và sản lượng tối đa hoá được lợi nhuận của họ. Tuy nhiên, khi các nhà kinh tế học thảo luận về lợi nhuận, họ liên hệ tới khái niệm lợi nhuận kinh tế (economic profit) được định nghĩa như sau:
    Lợi nhuận kinh tế = tổng doanh thu - toàn bộ chi phí kinh tế
    Như bạn đã biết khi chúng ta bàn về các kiến thức ở Chương 2, chi phí kinh tế bao gồm toàn bộ những chi phí cơ hội, bất luận những chi phí này rõ ràng hay ngấm ngầm. Một chi phí rõ ràng là một chi phí trong đó có một sự thanh toán được thực hiện. Nói cách khác, một chi phí ngấm ngầm là một chi phí trong đó tiền không được đổi tay cho nhau. Để giúp minh hoạ cho sự khác biệt này, chúng ta sẽ xem xét một ví dụ cụ thể. Giả sử bạn mượn tiền từ một ngân hàng để có vốn kinh doanh. Trong trường hợp này, thanh toán lãi suất cho khoản vay nợ là một chi phí rõ ràng. Nói cách khác, bạn sử dụng khoản tiết kiệm của bản thân để làm vốn kinh doanh, bạn không phải trả lãi suất cho bất cứ ai khác vì sử dụng những nguồn vốn này. Tuy nhiên, trong trường hợp này, chi phí cơ hội sẽ là chi phí không rõ ràng của cái lãi suất mà bạn có thể nhận được nếu bạn sử dụng tiền này để mua những tài sản có lãi suất thay vì bỏ làm vốn kinh doanh.
    (TQ hiệu đính: để ra 1 ví dụ bằng toán học để các bạn hiểu nhiều hơn. Ví dụ, bạn có tiền trong tay là 1 triệu, và bạn đi mượn tiền ngân hàng là 1 triệu để làm ăn. Như vậy, vốn làm ăn của bạn là 2 triệu. Ví dụ thêm là ngân hàng của bạn tính tiền lời cho mượn là 7%, trong khi nếu bạn cho ngân hàng của bạn mượn tiền, ngân hàng trả 2%. Số tiền lời mà bạn phải trả ngân hàng, 70 ngàn, là chi phí rõ ràng. Số tiền lời mà bạn mất vì bạn dùng tiền đi làm ăn, thay vì cho ngân hàng mượn, 20 ngàn, là chi phí cơ hội, hay còn gọi là chi phí ngầm).
    Lưu ý, chi phí kinh tế khác với chi phí kế toán. Hầu hết chi phí kế toán bao gồm chi phí rõ ràng. (Trừ ngoại lệ chi phí kế toán bao gồm cả cách tính sự mất giá dựa trên cơ sở mức giá cũ của vốn và không dựa trên chi phí cơ hội của nó). Tất nhiên lý do cho sự phân biệt này là hệ thống kế toán được sử dụng để cung cấp bản quyết toán thu và chi của các công ty. Vì một bản quyết toán như vậy rất hữu ích với việc đánh thuế và với những người chủ sở hữu công ty, mỗi khoản thu chi phải được đi kèm bởi một số quyết toán có thể xác minh được của các giao dịch. Những chi phí không rõ ràng không quan sát được trực tiếp và không có "hoá đơn" để xác minh tài khoản.
    Do chi phí kinh tế bao gồm cả chi phí rõ ràng và chi phí ngấm ngầm trong khi chi phí kế toán chỉ bao gồm (hầu như là hoàn toàn) chi phí rõ ràng, chi phí kinh tế thực sự luôn lớn hơn chi phí kế toán. Sự chênh lệch giữa hai cách tính chi phí chính là chi phí cơ hội của các nguồn lực được cung cấp bởi chủ sở hữu của công ty. Chi phí cơ hội của các nguồn lực do các chủ công ty này cung cấp được gọi là lợi nhuận thông thường (normal profit). Như trong sách giáo khoá của bạn có lưu ý, chủ sở hữu các tập đoàn (các cổ đông) phải nhận được tỷ lệ sinh lời đối với cổ phần tương đương với những gì họ có thể nhận được nếu họ có sự lựa chọn thay thế tốt nhất kế tiếp. Vì vậy, lợi nhuận thông thường (hay "lợi nhuận kế toán thông thường" như định nghĩa trong sách giáo khoa của bạn) là một chi phí kinh tế không giống với chi phí kế toán.
    Chi phí kế toán được định nghĩa (accounting profit):
    Chi phí kế toán = tổng doanh thu - toàn bộ chi phí kế toán
    So sánh định nghĩa giữa chi phí kinh tế và chi phí kế toán cho thấy lợi nhuận kế toán luôn thực sự vượt quá lợi nhuận kinh tế. Hãy lấy một ví dụ đơn giản. Giả sử người chủ sở hữu nhận được 90.000 đôla một năm bằng việc sử dụng lao động, vốn và các nguồn lực khác trong hoạt động kinh doanh của mình. Nếu cô ta nhận được 70.000 đôla lợi nhuận kế toán, cô ta luôn phải chịu tổn thất kinh tế là 20.000 đôla do cô ta nhận được ít hơn 20.000 đôla so với những gì cô ta có thể nhận được bằng một việc sử dụng thay thế các nguồn lực này.
    Nếu những người chủ sở hữu của một công ty nhận được lợi nhuận kinh tế, điều này có nghĩa là họ nhận được một tỷ lệ sinh lời với việc sử dụng những nguồn lực này vượt quá những gì họ có thể nhận được trong cách sử dụng tốt nhất kế tiếp. Trong tình huống này, chúng ta hy vọng thấy những công ty này tham gia kinh doanh (trừ phi có những rào cản với việc tham gia kinh doanh).
    Nếu một công ty chịu tổn thất kinh tế (lợi nhuận kinh tế là âm), những người chủ sở hữu nhận được thu nhập ít hơn thu nhập họ có thể nhận được nếu những nguồn lực của họ được sử dụng trong cách thay thế tốt nhất kế tiếp. Về dài hạn, chúng ta sẽ thấy những công ty này rời bỏ việc kinh doanh khi điều này xảy ra.
    Nếu những người chủ sở hữu của một công ty điển hình nhận được lợi nhuận kinh tế bằng 0, điều này có nghĩa họ nhận được thu nhập tương đương với thu nhập họ có thể nhận được trong cách sử dụng tốt nhất kế tiếp. Trong trường hợp này, không có động lực cho các công ty tham gia hoặc rời bỏ việc kinh doanh. Hãy chắc chắn bạn hiểu lợi nhuận kinh tế bằng 0 xảy ra chỉ khi những người chủ sở hữu nhận được lợi nhuận kinh tế bằng lợi nhuận thông thường.
    Doanh thu cận biên (marginal revenue) và chi phí cận biên (marginal cost)

    Hãy xem xem điều gì xảy ra với lợi nhuận của một công ty khi công ty này sản xuất ra thêm một đơn vị sản lượng. Hãy nhớ là lợi nhuận kinh tế được xác định:
    Lợi nhuận kinh tế = tổng doanh thu - chi phí kinh tế
    Khi một công ty sản xuất ra thêm một đơn vị sản lượng, tổng doanh thu của nó tăng lên (trong mọi tình huống thực tế) và chi phí của nó cũng tăng lên. Lợi nhuận tăng nếu doanh thu tăng một lượng lớn hơn lượng mà chi phí tăng và giảm nếu chi phí tăng nhiều hơn khoản tăng của doanh thu. Doanh thu thêm thu được từ kết quả quy mô của một đơn vị sản lượng thêm được gọi là doanh thu cận biên (Marginal Revenue ~ MR). Như được lưu ý trong Chương 8, chi phí thêm đi cùng với việc sản xuất thêm một đơn vị sản lượng là chi phí cận biên (Marginal Cost ~ MC).
    Hãy xem xét quyết định của một công ty về việc sản xuất nhiều hơn hay ít hơn. Nếu doanh thu cận biên vượt quá chi phí cận biên, sản xuất một đơn vị sản lượng thêm sẽ tăng doanh thu nhiều hơn tăng chi phí. Trong trường hợp này, công ty sẽ dự tính tăng mức sản xuất để tăng lợi nhuận của mình. Ngược lại, nếu chi phí cận biên vượt quá doanh thu cận biên, chi phí của việc sản xuất đơn vị sản lượng cuối cùng lớn hơn doanh thu thêm từ việc bán đơn vị sản lượng đó. Trong trường hợp này, các công ty có thể tăng lợi nhuận của mình bằng cách sản xuất ít hơn. Vì vậy, một công ty tối đa hoá lợi nhuận sẽ sản xuất nhiều hàng hoá hơn khi MR > MC và ít hàng hoá hơn khi MR < MC. Nếu MR = MC, công ty sẽ không có động cơ để tăng hoặc giảm sản lượng. Trong thực tế, lợi nhuận của công ty được tối đa tại mức sản lượng mà tại đó MR = MC.
    Do doanh thu cận biên là một phần quan trong trong quyết định về sản lượng của công ty, do đó doanh thu cận biên sẽ được xem xét chi tiết hơn. (Chúng ta cũng đã xem xét về chi phí cận biên trong tuần trước). Doanh thu cận biên được xác định:
    Doanh thu cận biên =
    Trong đó: TP = Tổng Lợi Nhuận (Total Profits), và Q là sản lượng (Quantity)
    Nếu một công ty đứng trước với một đường cầu co giãn hoàn hảo, giá của hàng hoá bằng nhau tại mọi mức sản lượng. Trong trường hợp này, này doanh thu cận biên chỉ bằng giá thị trường. Ví dụ, giả sử 1 đôla một tá ngô. Doanh thu cận biên của một công ty nhận được từ việc bán một tá ngô thêm đơn giản là bằng giá 1 đôla. Điều này được minh hoạ trong biểu đồ dưới đây:
    Tuy nhiên, giả sử một công ty trước với một đường cầu có độ dốc đi xuống dưới. Trong trường hợp này, công ty phải hạ thấp giá nếu nó muốn bán được thêm những đơn vị hàng hoá này. Trong trường hợp này, doanh thu cận biên thấp hơn giá. Hãy sử dụng một ví dụ để xem tại sao điều này lại là sự thật. Hãy xem xét tình huống được miêu tả trong biểu đồ dưới đây. Khi giá là 6 đôla công ty có thể bán 4 đơn vị sản phẩm và có tổng doanh thu bằng 6 x 4 = 24 đôla. Nếu công ty muốn bán đơn vị sản phẩm thứ 5, công ty phải hạ thấp giá xuống dưới 5 đôla. Tổng doanh thu của công ty trong trường hợp này bằng 25 đôla. Doanh thu cận biên trong trường hợp này bằng: thay đổi về tổng doanh thu/ thay đổi về số lượng = 1 đôla/ 1 = 1 đôla. Trong ví dụ minh hoạ này, doanh thu cận biên luôn nhỏ hơn giá của hàng hoá khi công ty đứng trước với một đường cầu có độ dốc đi xuống dưới. Đó là vì công ty phải hạ thấp mức giá để không chỉ bán được đơn vị hàng hoá cuối cùng mà còn bán tất cả các đơn vị hàng hoá mà công ty muốn bán. Trong trường hợp này, công ty có tổng doanh thu tăng thêm 5 đôla từ cùng 5 đơn vị hàng hoá, nhưng tổng doanh thu của công ty bị thiệt hại 4 đôla khi công ty hạ giá 4 đơn vị hàng hoá đầu tiên 1 đôla. Vì vậy, tổng doanh thu chỉ tăng 1 đôla khi đơn vị hàng hoá thứ 5 được bán.
    Biểu đồ dưới minh hoạ cho mối quan hệ giữa đường tổng doanh thu và đường cầu. Đưòng cầu cho biết mức giá tại mỗi mức sản lượng. Do chúng ta biết là MR thấp hơn mức giá, đường tổng doanh thu cận biên phải nằm dưới đường cầu. Sử dụng kết quả từ chương về độ co giãn, chúng ta có thể thấy tổng doanh thu cận biên là dương trong khu vực đường cầu có tính co giãn (do trong trường hợp này một mức giá giảm dẫn tới một mức tăng tổng doanh thu), bằng 0 khi cầu là đơn vị co giãn (do tổng doanh thu không thay đổi khi giá giảm trong trường hợp cầu là đơn vị co giãn) và âm khi cầu không co giãn (do tổng doanh thu giảm khi giá giảm trong khu vực đường cầu không có tính co giãn).
    Biểu đồ dưới đây minh hoạ cho mức tối đa hoá lợi nhuận của giá và sản lượng với một công ty đứng trước với một đường cầu sản phẩm có độ dốc nghiêng xuống dưới. Như đã lưu ý ở trên, mức tối đa hoá lợi nhuận của sản lượng chỉ có tại điểm MR = MC. Điều này xảy ra tại mức sản lượng Q0, mức sản lượng tại đó đường MR và đường MC giao nhau. Giá mà các công ty có thể thay đổi để bán tăng nhiều sản lượng được định ra trước bởi đường cầu. Trong ví dụ này, giá bằng P0
    Phần bôi mầu trên biểu đồ hiển thị cho mức lợi nhuận kinh tế của công ty này. Lưu ý là chiều cao của hình chữ nhật này bằng sự chênh lệch giữa giá hàng hoá và tổng chi phí trung bình. Khoảng cách chiều cao này bằng mức lợi nhuận của mỗi đơn vị sản lượng. Chiều ngang của hình chữ nhật bằng số lượng sản phẩm công ty bán được. Khu vực hình chữ nhật này (khu vực bôi màu) bằng lợi nhuận mỗi đơn vị sản lượng nhân với số đơn vị sản lượng. Kết quả này bằng tổng lợi nhuận kinh tế (Total Profit ~ TP).

    Source from kinhtehoc
    Hạnh phúc

    Có việc gì đó để làm
    Có ai đó để yêu
    Có điều gì đó để hy vọng

  5. #4
    Tham gia ngày
    Feb 2012
    Nơi ở
    can tho
    Bài gởi
    6
    Cảm ơn
    18
    Được cảm ơn 10 lần trong 7 bài viết
    Rep Power
    0

    Ðề: Chi phí biên

    Cho minh hoi cau nay voi moi nguoi oi.
    Chung minh: Chi phi trung binh co dinh(AC co dinh) thi Chi phi bien bang chi phi trung binh (AC=MC)
    pcd

Thông tin về chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện đang có 1 người xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền hạn

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •